
Trương Đỗ - Đă lâu tôi muốn viết lại những kỷ niệm của những chuyến
đi thăm nuôi "tù cải tạo", nhưng cuộc sống hàng ngày đă cuốn mất đi
thời gian. Hôm nay đọc được bài "Đi thăm Cù Huy Hà Vũ" của Phạm Đ́nh
Trọng đăng trên web Dân Làm Báo, mô tả chuyến thăm nuôi TS Cù Huy Hà
Vũ tại trại Lam Sơn, Thanh Hóa vừa rồi của chị Dương Thu Hà. Bao kỷ
niệm về những cuộc thăm nuôi người thân của tôi cũng đă từng bị nhốt
ở trại này quay về. Tôi viết ra như một sự chia xẻ, không phải là sự
so sánh. Tôi nghĩ chị cũng cùng chung cảnh ngộ như chúng tôi ngày
nào, v́ ở giai đoạn nào người thân của chúng ta cũng là người yêu
nước, yêu quê hương Việt Nam bị Cộng Sản Việt Nam cầm tù.
Đếm lại thời gian th́ ra đă 37 năm kể từ khi niềm Nam bị mất. Đó là
khúc quanh lịch sử. Ít nhiều trong mỗi người dân miền Nam đều có một
sự mất mát, cái mất mát không thể chối căi là 2 chữ TỰ DO.
Tôi không biết nên bắt đầu từ đâu v́ chuyện của tôi cũng là chuyện
của đa số những phụ nữ miền Nam có người yêu, có chồng, có người
thân bị đi "cải tạo".
Thời gian đó chúng tôi c̣n rất trẻ, tôi sắp tốt nghiệp Sư Phạm, hôn
phu của tôi chưa quá tuổi 30. Ước mơ của chúng tôi rất b́nh thường
là có một mái ấm gia đ́nh, nhưng không ngờ biến cố 75 đă đánh sập nó
đi và cướp đi luôn tuổi trẻ hăng say của thế hệ chúng tôi.
Hai chúng tôi sống không cùng thành phố nên trước khi bị tập trung
với danh từ hoa mỹ là "học tập". Anh viết cho tôi lá thư với nội
dung là theo lệnh của Ban Quân Quản Sài G̣n, anh làm đơn "xin đi học
tập" trong ṿng 30 ngày, mang theo bút giấy và thức ăn. Trên thế
giới này chắc chỉ có nhà nước Cộng Sản Việt Nam là nước duy nhất,
lịch sự nhất bắt người ta ở tù có đơn xin đính kèm. Ngày tập trung
là thứ sáu 13 tháng 6 năm 1975. Anh bảo tôi yên tâm.
Lẽ ra đám cưới của chúng tôi tổ chức vào ngày 3 tháng 4, nhưng ngày
10 tháng 3 mất Ban Mê Thuột, tiếp đến 2 tháng 4 mất Nha Trang, nên
đám cưới đă đ́nh lại. Tưởng rằng đi 30 ngày nào ngờ biền biệt tăm
hơi. Măi 2 năm sau tôi mới nhận được thư anh không đề nơi chốn,
không có dấu bưu điện nơi gởi. Qua lời thư tôi đoán biết anh đă bị
đưa ra Bắc nhưng không biết nơi nào.
Rồi 2 năm sau nữa tức là năm 79 tôi nhận được thư anh gởi lén nhân
dịp chị Dung thăm nuôi chồng mang về cho tôi, anh xin gia đ́nh đi
thăm-nuôi. Th́ ra thời gian qua anh bị giam ở Quảng Ninh, v́ Trung
Quốc đánh chiếm biên giới nên họ chuyển các anh vào trại 5 c̣n gọi
là trại Lam Sơn hay trại Lư Bá Sơ - Thanh Hóa. Sau này các anh nghe
Cán Bộ nói lại lúc đó nếu Trung Quốc đánh sâu vào Việt Nam tí nữa,
việc đầu tiên là bắn bỏ tù cải tạo miền Nam trước. ́ họ sợ Trung
Quốc cướp tù binh.
Tôi bắt đầu chuẩn bị cho cuộc thăm nuôi đầu tiên:
Nghe nói trại cho mang vào 60kg hay 6 yến v́ cứ 10 kg gọi là 1 yến,
danh từ này lạ với tôi. Thời gian đó lương thực bán theo tem phiếu
nên mọi thứ phải mua chui, nhất là thuốc men. Các thức ăn phải chế
biến mới để lâu được, như mắm ruốc sả, tương sả ớt, cơm sấy, nước
mắm kho quẹt... Khâu bao b́ phải kỹ kẻo đổ bể dọc đường. Trước đây
anh không hút thuốc lá v́ tôi không thích. Nay anh xin thuốc Lào để
hút chống lạnh; tôi đi t́m loại thuốc nào ngon nhất mà mua. Thật
ḷng mà nói thời gian này nếu không nhờ vào sự động viên của cha mẹ,
các anh chị em, nhất là 3 đứa cháu Ti, Trang, BamBi sau này thay
phiên đi thăm nuôi cùng tôi chắc tinh thần tôi xuống dốc trầm trọng.
Tất cả đă chuẩn bị xong chỉ đợi giấy thông hành là loại giấy do Công
An thành phố cấp chấp thuận cho đi khỏi thành phố.
Bắt đầu cuộc hành tŕnh thăm nuôi:
Thú thật với các bạn thời đó tôi thuộc dạng nhỏ con, người không đủ
tấc, không biết gánh gồng nên phải cậy nhờ thằng cháu 13 tuổi đi
cùng, đỡ tay, đỡ buồn, đỡ cô đơn. Chị Dung mang theo 2 con nhỏ, cháu
lớn 4 tuổi, cháu nhỏ 3 tuổi được sanh sau khi anh đi tù, nên cháu
không biết mặt cha do đó khi gặp mặt nó nói "Ba ǵ mà không giống Ba
trong h́nh".
Chúng tôi xuất phát từ ga Nhatrang, ra Thanh Hóa phải mất 2 đêm 3
ngày trên tàu.
Ngày thứ 3 kể từ ngày khởi hành chúng tôi đến Thanh Hóa, phải ở lại
1, 2 đêm tùy theo giờ tàu tới, để sáng hôm sau mới có xe lên trại.
Thời gian này chúng tôi đi t́m hiểu trại ở đâu, đi bằng cách nào. Sợ
nhất là gặp mưa nguồn, đường lên trại thế nào cũng bị lụt, không thể
đi được phải nằm lại Thanh Hóa.
Sáng sớm của ngày thứ 5, chúng tôi lên trại. Không biết bây giờ
phương tiện giao thông có khá hơn chứ lúc bấy giờ rất tệ. Mỗi ngày
chỉ có một chuyến xe lên vùng cao và một chuyến xe về miền xuôi tức
về phố Thanh Hóa. Xe đ̣ ở đây cũng khác xe đ̣ trong Nam. Chắc dân
chúng không có hành lư nên mái xe cong cong không bằng phẳng và
không có khung để hành lư như xe trong Nam. Hành lư thăm nuôi tương
đối cồng kềnh nên chúng tôi phải tự sắp xếp lấy. Tôi trở thành lơ
xe, tự trèo lên mui xe cao và cong, tḥng dây kéo hành lư lên mui
với sự hỗ trợ của chị Dung và đám con nít phía dưới, trước mắt đám
đàn ông thanh niên. Chắc họ sống dưới chế độ XHCN lâu rồi nên không
biết giúp đỡ phái yếu. Tôi trói gà không chặt nhưng cũng phải ra sức
cột chặt các bao đồ thăm nuôi, kẻo đường đi gập ghềnh không khéo đến
nơi không c̣n ǵ tiếp tế. Lúc đó tôi thấy tôi giỏi thật.
Tôi không biết từ Thanh Hóa lên trại 5 Lam Sơn bao nhiêu cây số,
nhưng măi đến trưa chúng tôi mới đến được ngă 3 Cẩm Thủy đường rẽ
vào trại, lúc đó đă có vài gia đ́nh đứng đợi. Từ ngă 3 này đi bộ vào
trại cũng khá xa. Chắc là đợt đầu trại cho thân nhân thăm nuôi tiếp
tế nên trại có xe trâu ra chở hành lư. Các năm sau không có dịch vụ
này. Lâu quá tôi không c̣n nhớ trại tính bao nhiêu tiền mỗi một yến
(10kg). Xe trâu đó chỉ chở hành lư, không chở người. Từ đường cái
vào trại, hai bên vách đá cheo leo, không một bóng cây, tôi thấy tôi
nhỏ bé giữa núi rừng. Th́ ra đây là địa danh Lam Sơn nơi Lê Lợi hăm
quân, bên ngoài quân Tàu bao vây, nên Lê Lai đă giả dạng làm Lê Lợi,
liều ḿnh cứu chúa mà trong Nam trước 75 thời tiểu học chúng tôi đă
được học.
Lên tới đây, tôi thầm thán phục các bà chị đi trước, từ trong Nam mà
đă t́m ra được nơi giam giữ người thân của ḿnh như nơi đây.
Nơi đây có 3 trại nhốt Quân-Cán-Chính Việt Nam Cộng Ḥa và một ít
tội h́nh sự. Chúng tôi theo xe trâu đi qua trại A, trại B mới đến
trại C là trại giam người nhà chúng tôi. Lúc này vào trại C chỉ có 2
gia đ́nh chúng tôi. Vào đến Nhà Thăm Nuôi cũng đă hết giờ lao động
nên nghe không gian tĩnh mịch quá, không biết rằng nơi đây đang giam
giữ, tù đày mấy ngàn con người v́ vận nước nên trở thành người bại
trận. Ḷng tôi đau thắt thương cho người thân của tôi, thương cho
hàng ngàn thanh niên trong tù kia phải sống kiếp lưu đày biệt xứ.
Trại C là trại mới, tù nhân bị bắt trồng tre bao quanh trại, ṿng
ngoài là hồ sen bao la. Thâm độc thật! v́ khi tre đă lớn nó trở
thành một ṿng đai vững chắc, tù nhân khó vượt qua hơn cả tường
thành. Đúng vậy năm sau tôi ra, chỉ một năm thôi hàng tre lên cao
xanh ŕ. Xa xa từ Nhà Thăm Nuôi nh́n về hướng trại giam, chắc chắn
các bạn không biết bên trong ṿng lũy tre đó có sự sống nhưng cũng
là cơi chết của hàng ngàn thanh niên miền Nam.
Chiều chúng tôi ra nhà dân mua thêm ít đồ tươi như chuối, kẹo, bánh,
và vài lon gạo nếp để nấu xôi. Trong Nam ḿnh gọi là 1 lon gạo, 2
lon gạo, dân ở đây họ gọi là 1 ḅ gạo, 2 ḅ gạo, chắc là lon sữa ḅ
đó. Mang ra được mấy cây lạp xưởng, chúng tôi phải chiên trước và
cắt nhỏ v́ nghe nói vào trại có Cán Bộ kiểm tra không biết tưởng là
cây đèn sáp (cây nến) th́ sẽ bị tịch thu ngay. Tất cả phải được
chuẩn bị sẵn để ngày mai thăm nuôi.
Đêm đó tôi không sao chợp mắt được dù rất mệt, miên man suy nghĩ về
cuộc gặp mặt ngày mai, chắc anh cũng vậy. Bên ngoài đêm đen sâu
thẳm, tiếng côn trùng ră - rích, thêm vào đó Nhà Thăm Nuôi mới cất
nên ban đêm tre nứa giăn nở kêu răng rắc. Nước mắt tôi cứ tuôn, nếu
có khiếu văn chương chắc tôi đă trở thành thi sĩ. Đám nhỏ vô tư quá,
hay quá mệt nên đă ngủ say; chỉ c̣n lại hai chị em nói chuyện cho đỡ
buồn. Đang chuyện tṛ th́ nghe trên mái tranh tiếng chuột rượt đuổi
nhau, phải nói nhiều lắm, cả bầy. Tôi lo sợ nó sẽ xuống ăn hết đồ
tiếp tế của chúng tôi. Nghe nói có người đă bị bầy chuột này cắn phá
hết đồ đạc. Tôi trở nên mê tín khấn vái "lạy các ông Thiên xin đừng
cắn phá đồ đạc tiếp tế người thân của chúng tôi đang bị tù đày ở
đây...". Không biết bầy chuột có hiểu tiếng người hay không mà biến
mất. Đến sáng đồ đạc không hề hấn ǵ cả.
Ngày hôm sau là ngày thứ 6 kể từ ngày lên tàu. Cán Bộ (Công An) dẫn
2 anh ra pḥng làm việc, chúng tôi không phải đi xa v́ pḥng làm
việc của Cán Bộ sát 2 pḥng ngủ của thân nhân trại viên. Trong pḥng
làm việc của Cán Bộ cũng là pḥng tiếp tân, ngoài cái bàn làm việc
ra c̣n có một cái bàn to và dài, hai bên có 2 băng ghế. Chúng tôi
ngồi 2 bên, Cán Bộ ngồi ở đầu bàn theo dơi, họ dặn ḍ không được nắm
tay, không được nói nhỏ. Đă 4 năm lao động khổ nhục chắc cũng không
đủ ăn nên tôi không nh́n ra anh, duy cái cười âu yếm ngày nào là
không thay đổi. Hai chúng tôi không biết nói ǵ với nhau ngoài những
câu anh hỏi thăm sức khỏe người nhà. Tôi cắn môi để cố ngăn ḍng
nước mắt, anh nh́n tôi người vợ sắp cưới mà lắc đầu xót xa.
45 phút thăm nuôi trôi qua nhanh, vượt bao gian khổ chỉ được gặp
nhau 45 phút. Các anh nhận quà tiếp tế (vào bên trong họ mới kiểm
soát). Có bịn rịn, nấn ná cũng không được v́ Cán Bộ thúc hối. Họ
không cho khóc v́ "làm như thế các anh không yên tâm học tập tốt,
lao động tốt". Anh trở lại trại giam, tôi uất nghẹn muốn gào thét
nhưng không dám chỉ biết bưng mặt khóc. Nh́n bóng lưng anh xa khuất
bên kia dốc, vậy là cách biệt.
V́ trút hết lương thực cho các anh, nên đến chiều chúng tôi ra nhà
dân mua khoai ḿ về luộc để ăn. Đêm nay tôi lại không ngủ được, buồn
lắm.
Sáng sớm hôm sau là ngày thứ 7 trong cuộc hành tŕnh, chúng tôi cuốc
bộ ra khỏi trại. Xa xa có toán trại viên đang làm gạch, tôi thấy các
anh ngừng tay ngẩng lên, dơi mắt theo chúng tôi như muốn gởi bao
thương nhớ về Nam.
Đường ra khỏi trại sao dài quá, đôi chân tôi nặng trĩu dù không c̣n
hành lư. Ra đến quốc lộ chúng tôi đón xe về xuôi, hên th́ có xe nếu
không hên th́ phải quay lại trại ngủ. Núi đồi hiu quạnh quá nên
tiếng vo-vo của bầy muỗi đeo theo bầy trâu mà tôi cứ lầm là tiếng xe
hơi đang từ bên kia núi chạy xuống. Cuối cùng cũng quá giang được xe
Bộ Đội về đến ga Thanh Hóa.
Chắc chắn là không thể mua được vé xe lửa về rồi, nên chúng tôi phải
chui rào vào ga trước. Chỗ này tôi đă để ư từ hôm mới đến. V́ đến 9
giờ tối tàu Thống Nhất mới vô Nam, nên chúng tôi lên các toa trống
trong ga để trốn kẻo đến giờ tàu tới không có vé là bị đuổi ra. Tôi
thầm cầu được về ngay trong đêm nay là tốt nhất. Lên được trên tàu,
trả tiền riêng cho Kiểm Soát Viên, dù bị ngồi ở ngoài chỗ nối 2 toa,
thế nào cũng gần cầu tiêu, nhưng miễn sao được về nhà sớm là mừng
rồi.
Rồi tàu cũng đến. Xa xa nghe tiếng c̣i tàu tụi nhỏ reo lên. V́ lần
đầu tiên không có kinh nghiệm, chúng tôi đứng bên này đường tàu, mặt
hướng vào nhà ga. Th́ ra khi tàu đến họ đóng tất cả các cửa toa phía
chúng tôi đang đứng, chỉ mở cửa phía đối mặt nhà ga. Chúng tôi kéo
nhau đi ṿng từ đuôi tàu để ra phía trước. Đuôi tàu là toa số 1
gường nằm, gặp cô Kiểm Soát Viên người miền Bắc nhiệt t́nh, hiểu
được hoàn cành nên dẫn chúng tôi đến gặp Kiểm Soát Viên toa số 4 là
toa dành cho khách đến và đi từ Nha Trang để xin cho chúng tôi lên
tàu. Nh́n lên toa tàu thấy cũng c̣n chỗ trống, lại được nghe giọng
nữ Kiểm Soát Viên này là người miền Nam, tôi mừng trong ḷng chắc
thế nào cũng được lên tàu để về. Chúng tôi đợi măi sao không thấy cô
ta nhường lối cho chúng tôi lên, mà cứ đứng áng ở bậc tam cấp. Đến
khi tiếng c̣i tàu vang lên báo hiệu tàu rời ga, cô ta mới bước hẳn
lên tàu. Tàu từ từ chuyển bánh, thấy vậy cháu tôi lật đật nhảy lên
tàu trước, định đưa tay kéo chị Dung lên. Tôi và 2 đứa nhỏ chạy lúp
xúp theo tàu. Tôi định khi chị lên được th́ tôi sẽ đưa 2 đứa nhỏ
tiếp lên. Nào ngờ đoạn tàu chạy chậm ngắn quá, tàu tăng tốc độ lại
nhanh lên. Tôi thấy chị lúng túng ở tam cấp tàu, chân trên chân
dưới, chị lên không kịp. Chị Dung lại có bịnh mắt quáng gà do đó
trượt tay, té ngă ra sau rớt lại trên thềm ga, thấy vậy cháu tôi
nhảy xuống. Với cảnh tượng này có một số em bán thuốc lá trong sân
ga chạy tới ôm vai giữ chị lại. Tôi nghe tiếng mất tiếng c̣n các em
ấy gào "cô ơi! cô ơi!". Tôi kinh hoàng nhưng phải ôm chặt 2 đứa nhỏ
sợ chúng bị cuốn vào tàu. Toa cuối cùng vụt qua, tôi nghe các em bán
thuốc lá lao xao quanh chị. Vội buông 2 đứa nhỏ, tôi chạy đến. Trong
ḷng lo sợ nếu 2 chân của chị bị vướng vào tàu chắc không c̣n nữa.
Nh́n chị ngồi bệt trên thềm ga không cách xa đường tàu là mấy, nghe
các em bán thuốc lá reo la, chửi rủa Kiểm Soát Viên, tôi như nhẹ
người đi, ôm chầm lấy chị mà khóc khi thấy chị b́nh yên và khóc khi
thấy t́nh người nơi đây. Thật ra tôi mới quen chị Dung khi chị mang
giùm thư anh đến nhà, cùng cảnh ngộ chúng tôi cùng đi thăm nuôi
chung nên thân thiết dễ dàng. Đêm đó chúng tôi trải tấm nhựa ngủ
giữa trời, đợi khuya có tàu Chợ chạy vào Vinh.
Trưa hôm sau là ngày thứ 8 chúng tôi đến ga Vinh, rồi chuyến tàu về
Nha Trang. Đoạn đường này chúng tôi bị mất 2 lần tiền, v́ lên ở ga
Vinh chúng tôi đă nạp tiền gọi là tiền bổ sung cho Kiểm Soát Viên
rồi, nhưng khi tàu đến Huế th́ thay đổi hết nhân viên. Do đó Kiểm
Soát Viên mới thu tiền chúng tôi một lần nữa (phần tiền này họ bỏ
túi riêng) dù vẫn không có ghế ngồi phải nằm ngồi trên sàng tàu. Quá
thắm mệt, chúng tôi trải tấm nhựa ra ngủ thiếp đi. Trong giấc ngủ
chập chờn nghe tiếng cửa cầu tiêu trên tàu đóng-mở, có người bước
qua lại trên đầu tôi, có lúc dẫm lên cả tóc tôi. Đến tối tôi đă quen
mùi xú uế trong cầu xông ra, nó không c̣n nặng nề như ḷng tôi hiện
tại.
Tàu x́nh xịch đi qua những cánh đồng thơm mùi rạ mới. Ḷng tôi cảm
thấy thân thương, yên b́nh khi tàu đi vào phần đất miền Trung. Tôi
ngồi bất động không buồn tránh tia nắng chiều gay gắt chiếu vào
người. Giờ này đă hết giờ lao động, anh có cùng tâm trạng như tôi
không?
Ngày thứ 10, nh́n ra ngoài, tôi đă thấy những nơi chốn quen thuộc
khi tàu đi qua, đi qua. Như vậy là sắp đến nhà, chấm dứt một cuộc
hành tŕnh gian khổ. Rồi tàu tiến vào sân ga Nha Trang, tôi buồn-vui
lẫn lộn. Vui v́ đă về tới nhà, buồn v́ khoảng cách không gian giữa 2
đứa tôi đă thật sự quá xa.
Viết thay cho các chị cùng cảnh ngộ.
Trương Đỗ
2025
2024
2022-2023
2021
2020
2018-2019
2017
2016
2015
2014
2013
2012
Thuyền đời
Highway of Heroes
Nắng ấm quê hương
Truyện dài Bất Khuất
Thuyền đời ơi !
Những thằng
chúng tôi
Bài thơ trên
đồi Bác sĩ Tín
Viên đạn vang rền
Chuyện t́nh trái
ngang
Khối diễn hành
Băi tập
Lễ măn khóa
Một Đời Bất Khuất
Kỷ niệm Quân Trường - Về phép
Kỷ niệm Quân Trường - Cúp phép
Hồi
tưởng chiến trường 1062 Thượng Đức
Dọc đường gió bụi
T́nh Bất Khuất
Ngày xưa thân ái
Tôi đi lính
Bất Khuất
Quan Âm Tây
Du Hí truyện
Làm trong
sáng tiềng Việt
Hạ cờ tây
Thù dai
Kỷ niệm khó quên
Trận cuối
trong đời lính của tôi
Khúc hát Quân Hành
Một nỗi đau
Thủ Đức - Tuần huấn
nhục
Tâm thư của Cố Thiếu Úy
Trần Văn Quí
Trận Ô-Căm
Một lần vĩnh biệt
Một lần đi
Chuyến đi cuối năm
Nhớ về mái trường xưa
Phạm Xuân Tịnh - Một cuộc đời
Những ngày tháng
không quên
Tự do ơi, tự do!
V́ hai chữ Tự Do
Ngh́n trùng cách biệt
Thầy Chín
Để nhớ để quên
Soái hạm
HQ5 và trận hải chiến Hoàng Sa
Ngày 19-01 Kỷ Niệm
ngày Hoàng Sa nhuộm máu
Đi vào ḷng địch: Câu
chuyện thật của người Nhái HQ VNCH
Người bạn 101
Năm tháng tuổi thơ thuở nào
Lực lượng Đặc
Nhiệm Thủy Bộ Hải Quân VNCH
Đối diện tử thần
Một thời để yêu
Phi Công thời chiến
Người con dâu nước
Mỹ
Tưởng bỏ anh em
Đành bỏ anh em
Mai
Cuộc tuyệt thực ở
trại Cổng Trời
Một đời
binh nghiệp hai màu Mũ
Biệt Hải
trên vùng biển băo tố
Chuyện người
lính trinh sát
Nhan sắc cư tang
Niềm vú quân trường
Sự trịch thượng
Hộ
tống hạm HQ11 & Những ngày biến loạn tháng Tư đen
Bạn tôi, những
SVSQ khóa 2 Học Viện CSQG
Cuộc sống của người lính chiến ĐPQ và NQ
Sông Mao, Ngày
tháng cũ
Tự truyện của
một phi công
Chập chùng tủi nhục
Tâm sự người lính
Nén hương tưởng nhớ bạn Dương Quang Ngọc
Một mai giă từ
vũ khí
Mối t́nh đầu
T́nh lính
Đời lính
Tàn cuộc hoa này
Nó và Tôi
Viên ngọc nát
Những năm dài
qua đi... hội ngộ
Ngày Quân Lực :
Lời thú tội
Nhớ An Lộc - Chuyện người
Thương Binh bị bỏ quên
Nghĩ về người
vợ lính
Chuyện t́nh
với chàng cựu Không Quân Y 2 K
“Hát Ô” qua Mỹ
Anh hùng tử
- Khí hùng bất tử
Thằng lính bạc t́nh
Cuối đường
Đó đây trên quê
hương
Here and
There In The Homeland
Người c̣n
nhớ hay người đă quên
Những ngày tù chung
với Ông Đạo Dừa
Cây cầu biên giới
Khu trục bọc thây
Tướng Đỗ Cao Trí và
Tướng Nguyễn Viết Thanh Dưới Cái Nh́n Của Người Ngoại
Quốc
Đêm liêu trai
B̀NH-TUY,
những ngày cuối cùng...
T́nh Anh
Lính Chiến Biệt Động
Trận chiến đẫm máu của
HQ/VNCH: Trận Ba Rài
Mặt trận
Miền Đông vẫn yên tĩnh
Charlie ngày
ấy và Charlie bây giờ
Màu cờ và sắc áo
Tù binh và ḥa b́nh
Tây
Ninh, chút c̣n lại trong ḷng một người lính
Hoài niệm
Tâm tư và cuộc
sống quả phụ
Thượng Tọa Thích
Quang Long
4 ngôi
mộ lính nhảy dù Vị Quốc Vong Thân
Hai người bạn
Đôi ḍng về “Cỏ Thu
Hoàng thị”
Cái chân gỗ
Một H.O. muộn màng
Vài hàng gởi
anh Tŕu mến
Thiên bi hùng
ca QLVNCH
Để nhớ lại
những ngày Mùa Hè Băo Lửa
Trận chiến cô đơn
Biệt đội 817 -
LĐ81 BCD
Trận đánh
cuối cùng của ĐPQ...
Qua những trại tù
cộng sản...
Sông Mao, phi vụ
ngày 30 Tết
Nước mắt mẹ già
Viên đạn cuối cùng
Điếm Cỏ Cầu Sương
Người lính ấy của
tôi...
Khóc một ḍng sông
Cái muỗng
Tử thủ
Những tiếng
hát bừng sáng A 20
Thiên đường đỏ
Khoác áo chiến y
Chuyện t́nh của một
Phi Công
Hai v́ sao lạc
Tôi thương nhớ vợ
tôi
Bông hồng tạ ơn
Viết về Lê Hữu Lượng
Chinh nhân và
người t́nh
Tôi vào học viện
Cảnh Sát Quốc Gia
Cảm nghĩ của
một người Lính về Ngày Quân Lực 19/6
Nhiệm vụ
Cô gái B́nh Long
Những ngày hồi đó
Ngày QL19/06 - Người Lính
VNCH ... Tôi nợ Anh ..
Nhớ đến Biệt Đội
Thiên Nga
Viết về ngày QL
19/6/2011
Người không nhận
tội
Chào cô ... em gái
Biệt Cách Dù
Chuyện t́nh
chị Hạ và anh Nuôi
Huấn luyện Sĩ Quan
tại Hoa Kỳ
Ở cuối 2 con đường
Đêm Cao Miên
Đồn Dak Seang
Giải toả căn cứ
hỏa lực 6 Tân Cảnh
Quan Âm chí lộ
Rải tro theo gió
Một chuyến đi
toán phạt
Chinh chiến điêu linh
Trại gia binh
Viết về người lính
Địa Phương Quân
Người không nhận
tội
Tháng 4 xót xa
T́m
lại thương đau
Nụ cười người tử tội
Ngày về
Người lính miền Nam
Phan Rang nỗi
hờn di tản
Charlie, ngọn
đồi quyết tử
Quốc lộ 20
- hành lang của tử thần
Găy súng
Chuyện người
Nghĩa Quân
Chuyện Người Nghĩa Quân Thờ H́nh Của Chính Ḿnh
Đại Bàng Gảy Cánh
Tháng Tư
Trại gia binh
Viết về người lính
Địa Phương Quân
Quốc lộ 20
- hành lang của tử thần
Phnom Penh, ngày ấy c̣n
đâu?
Vinh danh
Tướng Đỗ Cao Trí
Trung
Tá Nguyễn Đức Xích "NGƯỜI TÙ BẤT KHUẤT"
Ngọn đồi cuối cùng
Nhớ hay Quên
Người lính miền Nam
Charlie, ngọn đồi quyết
tử
Chú Quế
Pleiku nắng bụi
mưa bùn
Mê thần tượng
Cơm cháy quân
trường
Anh trai Biên
Hoà, em gái Cà Mau
Giọt nước mắt
Đêm Giao Thừa ...!
Kiếp người... đời
lính...
Câu
chuyện tù của ĐT Phi Công HK...
Ḍng sông cỏ mục
Bên những bờ rừng
Đêm thánh vô cùng
Người tù kiệt xuất
KBC Một thời để nhớ
TPB Những
mảnh đời bất hạnh
Mùa Đông năm ấy
Người Lính Việt Nam Cộng Ḥa qua những t́nh khúc bất tử
của Một Thời Chinh Chiến
Phi vụ cuối cùng
Những người tù cuối cùng
Lửa máu hận thù
Người
Lính VNCH trong kho tàng âm nhạc Việt Nam
Mẹ VN ơi -
Chúng con vẫn c̣n đây
Khi người
ta gọi bác của tôi, ba tôi và anh tôi là 'giặc' !
Hăy thắp cho anh một ngọn
đèn
Chiếc áo phong sương t́nh
anh nặng
Người lính VNCH
trong nhạc sỉ Trần Thiện Thanh
Đêm hỗn mang
Ngỡ ngàng đời chiến sĩ
Chuyện nhớ
trong đời
Để ghi nhớ tháng 4 đen
Nỗi đau thời chiến
Cọp rằn Chương Thiện
Quà cho con trong tù
Những gịng
sông lịch sử đời người
Một người đi
Trận cuối 2
KBC 4100 & Tết Mậu Thân
Rừng khóc giữa mùa xuân
Lá thư t́nh của
người lính VNCH
Cô con gái quá giang trong
đêm mồng một Tết
Lon Guigoz hành trang người tù...
Con chó Vện và người tù cải tạo
Một lần toan tính...
Tấm thẻ bài
3 người chiến binh
"homeless"...
Trôi theo vận nước
Trận cuối
Chiến sĩ Kha Tư Giáo
Em không nh́n được
xác chàng
Chuyện buồn người vợ tù
Người Việt của tôi - Quận
Dĩ An
Sao hôm, sao mai
Những lá thư t́nh
May mà có em
Thằng bé đánh giày
người Nghĩa Lộ
May mà có em đời c̣n dễ
thương
Gói quà đầu năm
Cây Mai rừng của người Lính Trận
Cánh chim Thần Tượng
Ba ḍng nước mắt
Những xác chết trên mănh đất
chữ "S"
Thân phận người
lính găy súng
Chuyện vượt ngục ở trại Gia
Trung ...
Những mảnh đời dang dở
- phần 2,
phần 3,
phần 4,
phần 5,
phần 6,
phần cuối
Mưa trên Poncho
Người ở lại Saravan
Nhớ hay quên kỷ niệm thời
chinh chiến
Vược ngục
Chuyện t́nh khoai lang
Tâm t́nh
người lính VNCH tỵ nạn ở Thái Lan
Hồi tưởng ngày Quân Lực
19-6-73
Vinh danh người lính
VNCH
Dị mộng
Nhà thơ Hàn Mặc Tử
Tập thơ "đôi
hồ" và một thiên diễm t́nh
Về Quê
Ông già bơi rác
Nhớ thời
trường cũ Chu Văn An
Người chú họ của
tôi
Tôi bị bắt
Nhớ lắm… những
mùa Thu
Những chuyện
trời ơi !
Người đồng hương
Bên đời hiu quạnh
Việt Cộng con
Phượng hồng vào Hạ
Sức mạnh của
cộng đồng người Việt Quốc Gia hải ngoại
Giai thoại văn
chương
Kỷ niệm nỗi
trôi cùng trí nhớ
Bà xă đai-ét
Chuyện kể:
Một buổi trên đường vượt biển
Những vần thơ chui
Đi t́m Jackpot
Cây cầu biên giới
Ngày giỗ Tổ Hùng Vương
Như những giọt buồn
Một cơn đau tim….và một
lần phẫu thuật
Đứa con dị chủng
Bài thơ dang dở
Thất t́nh
Dấu "Hỏi Ngă"
trong văn chương Việt Nam
Ngày xưa thân ái...
Gió bụi một thời
Người sợ bóng
Hoàng hôn trên núi
Tây
Ư yêu đương
Đêm qua sân trước nở
cành mai
Vệt nắng cuối chiều
Đừng yêu người làm
thơ
Tết Nguyên Đán
Đừng yêu người làm
thơ
Như những vần mây
Đám cưới
Hạnh
phúc muộn màng đêm Giáng Sinh
T́nh... tiếc
Giáng Sinh năm nào
Ván cờ ma quỷ
Văn thơ trữ t́nh
Mùa Thu qua thi ca
Phụ nữ Việt Nam qua
Ca Dao
Tháng năm ngoảnh lại
Thu xưa
Thu có sầu chăng sáng
nay!
Cơn mưa chiều nay
Xuôi ḍng sông
Hương
Nỗi niềm cố cựu
Thiện và Ác
Tóc May sợi vắn sợi
dài
Tâm sự tuổi già
Xóm biển
Đi t́m tâm linh
Mấy đoạn đường đời
Tản mạn những
giao thoại văn chương
Xin hăy giúp tôi
Con c̣n nợ Ba
Nhăm nhi bầu bạn
Một thời để nhớ
Người quét chợ
Lời tỏ t́nh
Bạn cũ năm mươi năm
Về lại cố hương
Đường đi không đến
Xương trắng
Trường Sơn
Về lại cố hương
Thoáng xưa
Cánh Hoa Ngọc Lan
Bước không qua số
phận
Đọc thơ Trạch Gầm
Con Gà ṇi
Con Mèo hay con Thỏ?
Đời vẫn đáng sống
Tết làng tôi
Bầu Bí một giàn
Nghỉ hè ở Mallorca
Chiếc xích lô
chở mùa xuân
Em đi để lại con
đường
Một thời con gái
Bố tôi và người tù
Nguyễn Chí Thiện
Trường ca trang sử Mẹ....
Nỗi đau bẽ bàng
Khi con
đường không lối thoát
Những
bài ca một thời cuộc đời
Tiếng chuông ái t́nh
Những con cào cào xanh
Nếu chỉ c̣n một ngày
để sống
Bố tôi
Thiêng Liêng
Như Những Linh Hồn
Giấc mộng dài
Duyên số trời định
49 Ngày với em
Bài ca của người du tử
Tấm vạc giường
Cố hương, 35 năm sau
Vượt biển một ḿnh
Hăy bế em ra khỏi cuộc
đời anh
Những Tết năm xưa ở Phan
Thiết
Làm thinh
Màu tím trong thơ
Lệ Mừng trên cánh
Đồng Chiêm
Thằng cháu nội đích tôn
Chị Cả Bống
Làm rể Ninh Ḥa
Trời đất bao la
Nỗi buồn mùa Thu
Duyên Nam Bắc
Đà-lạt trời mưa
Xót xa
Tiểu thơ
Đôi mắt
Giọt mưa trên tóc
Quê tôi, ngày bé thơ lớn lên
Mùa thu cuộc t́nh
Cây sầu riêng sau vườn cũ
Tản mạn - Về những người bạn
Nh́n những mùa xuân đi...
Quê hương ruồng bỏ
Ba tôi và tôi
Vượt thoát
Made in VietNam
Giọt nước mắt
Ngày vô vị
Khóc lặng thinh
Đời c̣n vui v́ có
chút ṭm tem
Đôi mắt Phượng
Ngựi bán liêm sỉ
Bài ca vọng cổ
T́nh già
Buổi chiều ở Thị
trấn Sông-Pha
Saigon ngày ấy
Phàm phu tục tử
Thăm quê
Dấu tích ân t́nh
Địch thủ
Tâm
USS Midway - Ông
bạn già năm xưa -
English
Từ Mỹ, kể chuyện Mỹ Tho
Vài ṿng Thơ, Rượu và Tết
Mùa Xuân uống rượu
T́nh người
Hồi kư của một người Hà
Nội
T́nh nghĩa, nghĩa t́nh
Đôi đũa
Gịng đời... và hồi âm
gịng đời...
Không cho phép ḿnh
quên
Thảm sát trên đảo
Trường Sa
Em tôi
12 bến nước
Chào Mẹ
Cháo tóc
Những người không
đất đứng
Vợ hiền
Theo ngọn mây Tần
T́nh ngây dại