Nếu không có Pháp đô hộ Việt Nam th́ sao!


** ** ** **
Tại sao thực dân Pháp chọn chữ Quốc Ngữ mà không chọn Tiếng Pháp đặng đồng hóa dân tộc Việt Nam chúng ta?
 

1.Lịch sử đau thương lắm!

Thành Sài G̣n thất thủ ngày 17 tháng 2 năm 1859. Đại đồn Kỳ Ḥa bị tấn công năm 1860-1861

Pháp bằng vơ lực chiếm được tỉnh Gia Định năm 1862. Ḥa ước Nhâm Tuất (1862), triều đ́nh Huế nhượng 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Biên Ḥa, Gia Định và Định Tường) cho thực dân Pháp làm thuộc địa

Quan Phan Thanh Giản trên 70 tuổi lụm cụm nghe lịnh vua đi Phú Lang Sa chuộc đất không thành công

"Từ ngày đi sứ đến Tây Kinh
Thấy việc Âu Châu phải giựt ḿnh
Kêu rú đồng bang mau thức dậy
Hết lời năn nỉ chẳng ai tin"

A. Schreiner sau đó viết như sau:

“Những người An Nam đi thương thuyết họ đă quên một hệ quả cốt yếu của chiến tranh là kẻ chiến bại không được phép đ̣i hỏi lợi lộc.”

Năm Đinh Măo 1867 Pháp chiếm tiếp ba tỉnh Miền Tây Nam Kỳ là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên

Pháp chiếm hết lục tỉnh Nam Kỳ năm 1867

Ḥa Ước năm Giáp Tuất 1874 công nhận chủ quyền của Pháp trên toàn thể lănh thổ Nam Kỳ. Nam Kỳ chánh thức trở thành thuộc địa của Pháp
Theo Ḥa Uớc Nhâm Tuất 5/6/1862 và Ḥa ước Giáp Tuất 15/3/1874 Pháp hoàn toàn kiểm soát lục tỉnh Nam Kỳ. Nam Kỳ trở thành thuộc địa của Pháp\

Nước Pháp tốn chiến phí để đánh chiếm Nam Kỳ là 700 triệu quan vàng

Năm 1876 Pháp chia Nam Kỳ lục tỉnh ra 21 hạt tham biện (arrondissement)

Ḥa ước Giáp Thân (Ḥa ước Patenôtre) kư ngày 6/6/1884 xác lập chế độ bảo hộ của Pháp đối với Bắc Kỳ và Trung Kỳ

2.V́ sao chiến thắng mà người Pháp không lựa Tiếng Pháp làm ngôn ngữ chánh thức của Nam Kỳ và Việt Nam để rồi đă chọn chữ quốc ngữ.?

Các thuộc địa Pháp ở Châu Phi, Nam Úc đều xài Tiếng Pháp, duy nhứt người Việt Nam lại bị buộc xài chữ Quốc Ngữ là Tiếng Việt phiên âm chữ La Tinh
V́ sao?

-Thứ nhứt là:

V́ lịch sử chánh trị , văn hóa, tư tưởng giữa Việt Nam và Trung Hoa như mớ bùi nhùi, dai dẳng và lâu đời. Người Pháp và các cố đạo muốn cắt cái bụp cho rồi , không muốn Việt Nam c̣n dính ǵ Tàu nữa

Khoản 2 của Ḥa ước Giáp Tuất 1874, có đoạn:

“Tổng thống Cộng ḥa Pháp quốc thừa nhận quyền lực của vua nước An Nam và quyền độc lập hoàn toàn đối với bất kỳ một thế lực ngoại bang nào,…”

Cái ấn Tàu "ban cho" nhà Nguyễn mang ḍng chữ Hán “Việt Nam quốc vương” bằng bạc mạ vàng, nặng 5,9 kg, tay nắm tạc h́nh con lạc đà ở tư thế ngồi bị người Pháp yêu cầu Huế nộp cho Pháp đặng xóa Tàu ra khỏi lịch sử chánh trị Việt

Theo sách “Chánh sách của Pháp ở Đông Dương”. Tác giả Silvestre viết lại cuộc nghị đàm này như sau:

"Patenôtre đ̣i triều đ́nh Huế phải giao nộp cho Pháp chiếc ấn phong vương (để khỏi c̣n dấu vết ảnh hưởng Trung Quốc).

Đại thần Nguyễn Văn Tường và cả phái bộ Việt Nam cực lực phản đối. Giằng co măi, cuối cùng đi đến thỏa thuận là sẽ nấu chảy để tiêu hủy chiếc ấn chứ không giữ lại và cũng không giao nộp

Thế là ngày 6/6/1884, tại Ṭa Nhà Trú Sứ của Pháp ở bờ Nam sông Hương một chiếc ḷ nấu đồng được đặt bên chiếc bàn có văn bản ḥa ước viết sẵn.

Khi ḷ được châm lửa, Patenôtre vẫn c̣n nói nên ngưng việc thiêu hủy để giao chiếc ấn cho ông ta, nhưng ông ta vẫn chỉ nhận được cái lắc đầu dứt khoát của Nguyễn Văn Tường, và chiếc ấn được quăng vào lửa, phút chốc biến thành một thỏi xù x́ không ra h́nh dạng ǵ nữa"

-Thứ nh́ là:

Trong lịch sử Việt, tới khi Pháp xâm lăng mà dân tộc chúng ta c̣n loay hoay giữa chữ Hán và chữ Nôm

Việt Nam là một dân tộc kỳ khôi nhứt thế giới. Xưa Việt tộc có độc lập, có văn hiến, có lịch sử, có triều đ́nh, có Hoàng Đế thinh thang, có đủ thứ hết nhưng lại không có chữ viết riêng, thành ra đành đoạn phải xài chữ Hán Việt

Hán Việt cũng kỳ khôi, mượn nguyên bộ Hán tự của người Tàu làm chữ viết nhưng phiên âm đọc ra kiểu Việt

Chữ Hán Việt trong vốn ngôn ngữ Việt khá nhiều, mà toàn âm Hán Việt. Tiếng Việt và người Việt hoàn toàn chế ngự lớp từ “Hán Việt” đó bắt nó phải phục tùng ḿnh một cách hiệu quả

Thí dụ: Nói buồi và dương vật là trùng âm Hán Việt, nói "cái tḥng ḷng lửi thửi" hoặc "của quí" th́ trùng ai?

Ngày xưa thơ văn, nhạc, cải lương của Nam Kỳ hay và dân thích v́ nó có âm Hán Việt, các soạn giả xài rất nhiều. Ông nhạc sĩ Hoài Linh của bên nhạc vàng nổi tiếng xài Hán Việt trong nhạc, có bài nhạc của ông nghe rất hay, tưởng dễ thuộc nhưng lại rất khó thuộc, có ca sĩ hát tủ bài này mấy chục năm cứ lộn ca từ

Ví như bài “Về đâu mái tóc người thương” có đoạn:

“Đời lắm phong trần tay trắng tay
Trời đông ngại gió lùa vai gầy”

Câu này:

“Bên nhau sao t́nh xa vạn lư cách biệt mấy sơn khê”

Bài “Hai kỷ niệm một chuyến đi” có đoạn :

“Hôm nay bạn đi gót chân theo nhịp dạ hành
Tuổi đời vừa xanh như nụ hoa nở thêm cánh
Đă phân ly một lần tiễn anh thêm một lần
Áo đẹp màu chinh nhân “

Lấy ví dụ một cái nữa, hột đậu phộng để nói người Bắc rất lậm Tàu

Nam Kỳ kêu "đậu phộng", Bắc Kỳ kêu "củ lạc". Tàu viết "đậu phộng" là lạc hoa sinh (落花生)

Bắc Kỳ th́ giữ âm đầu gọi là lạc c̣n Tàu th́ giữ hai từ sau gọi là "hoa sinh", âm Bắc Kinh là huāshēng, âm Quảng Đông là phá xáng

Nam Kỳ kêu "đậu phụng" rồi trại qua "đậu phộng" v́ hột nó như con mắt chim phụng

Tức là người Việt xưa viết (bút đàm) th́ người Tàu hiểu, c̣n đọc Hán Việt th́ người Tàu khỏi biết cái ǵ

Các ông quan Việt xưa đi sang Trung Hoa không thể nói trực tiếp với người Tàu được, họ phải thông qua bút đàm hoặc nhờ một người phiên dịch

Người Việt học Hán Việt như học ngoại ngữ vậy

Chúng ta có văn hiến ảnh hưởng của Trung Hoa, điều này cũng không có chi ngại ngần hay lên án. Là v́ trên thế giới này các nền văn minh cũng không nhiều, Tây có Hy Lạp, Roma và các nước ảnh hưởng nó, Á có Trung Hoa và Ấn Độ và những nước bị ảnh hưởng

Nhưng v́ tinh thần độc lập, ông bà xưa chế ra chữ Nôm

Ông bà ta mới làm ra chữ Nôm, chữ Nôm là chữ mượn chữ Hán để ghi âm tiếng Việt cổ, gọi là chữ “giả tá”

Chữ Nam hay chữ Nôm (字喃), c̣n gọi là Quốc Âm (國音). Chữ Nôm rắc rối hơn chữ Hán nữa

Muốn học chữ Nôm phải rành chữ Hán, thành ra học Nôm như học ngoại ngữ thứ hai

Vào thế kỷ XIX, Nguyễn Trường Tộ khi viết các bản điều trần ông lại nhắc tới chữ Nôm

Nguyễn Trường Tộ gọi thứ văn tự mà ông đề xuất là “Quốc Âm Hán tự” 國音漢字, nghĩa đen là “chữ Hán đọc theo Quốc Âm”
Nguyễn Trường viết:

"Nếu một người nói ra một câu, lại phải nhờ một người khác dịch ra, tức là một người nước khác rồi. Một nước Nam ta mà có hai thứ âm thoại, hai thứ văn tự, chẳng hóa ra một nước mà ngăn ra hai thứ người sao?

...Chữ ḿnh học đă không phải chính âm của nước Tàu, mà cũng không phải là âm thoại của ta; khi học chữ phải dùng tâm trí để nhớ lấy các tiếng lạ, c̣n âm vận th́ chỉ người có học biết lấy mà thôi, chứ người bất học nghe đến chẳng khác ǵ như nghe giọng quạ kêu, chim hót"

Nguyễn Trường Tộ ủng hộ cho chữ Nôm khi nói về sự thay đổi, ông muốn cải tiến chữ Nôm, nhưng cải tiến thế nào th́ không có cách

Ngộ một điều là Nguyễn Trường Tộ là người Công Giáo, có quan hệ thân thiết với các giáo sĩ Tây Phương, nhà thờ, nhưng lại không đá động ǵ tới chữ

Quốc Ngữ La Tinh mà giới giáo sĩ đang xử dụng

Ông đề nghị vua Tự Đức xài chữ Nôm chứ không đề nghị chữ Quốc Ngữ

Ông gián tiếp phản đối dùng chữ Quốc Ngữ, ủng hộ dùng chữ Hán – Nôm làm văn tự chánh thống

Có lẽ "tầm nh́n" của Nguyễn Trường Tộ không dám vượt qua khuôn khổ Nho gia, ông vẫn bị cái "Nho" kiểu Tàu giữ rịt chặt cứng trong suy nghĩ ?

Dân tộc Việt có cái xui là dù có tiếng nói rất đặc biệt nhưng tới khi đă có triều đ́nh rồi mà vẫn chưa có chữ viết riêng, chữ Nôm không hoàn thiện

Hàn Quốc đă có bảng chữ cái, Nhựt Bổn cũng có chữ viết riêng dù không hoàn chỉnh. Có lẽ chữ tượng h́nh kiểu Trung Hoa không tài nào nhấn nhá thể hiện cách nói của người Việt

-Thứ ba là:

Chữ Quốc Ngữ của các cố đạo, của nhà thờ Ki Tô vào Việt Nam truyền đạo

Chữ Quốc Ngữ đă manh nha từ những năm đầu thế kỉ XVII khi các cố đạo Tây Dương vào Việt Nam truyền đạo và bị mớ rối nùi chữ Hán, chữ Nho làm bực ḿnh. Vậy là chữ Quốc Ngữ manh nha h́nh thành

Các giáo sĩ Ḍng Tên rất có công trong việc soạn thảo chữ Quốc Ngữ

Một thừa sai trẻ tuổi người Bồ là Francsisco de Pina đến giảng đạo ở Hội An năm 1623 đă học tiếng Việt, giảng đạo bằng tiếng Việt. Vị thừa sai này đă mở đầu cho thời viết Tiếng Việt bằng chữ cái Latin

Giáo sĩ Alexandre de Rhodes làm một cuốn tự điển Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum (Rome, 1651) đặt nền tảng cho chữ Quốc Ngữ

-Thứ tư là:

V́ sao người Pháp chọn quốc ngữ?

Rốt cuộc th́ không phải là các giáo sĩ Tây phương đă buộc người Việt dùng chữ Quốc Ngữ mà do chánh quyền thuộc địa Pháp đă xài chánh trị, cai trị mà ép dân tộc Việt xài chữ Quốc Ngữ

Ngày 17 tháng 10 năm 1887, Pháp lập Liên bang Đông Dương. Liên bang Đông Dương có 4 xứ, gồm thuộc địa Nam Kỳ (Cochinchine) và ba xứ bảo hộ là Bắc Kỳ (Tonkin), Trung Kỳ (Annam) và Cambodge

Việt Nam là một nước có nền văn hóa lâu đời, có triều đ́nh cai trị. Có đủ thứ của một quốc gia. Người Pháp không thể coi tộc Việt như các bộ tộc Châu Phi hay các bộ lạc ngoài các đảo

Tức người Pháp trong mức độ nào đó phải có một sự dè chừng, tôn trọng dân tộc Việt

Cái ngữ âm của dân tộc Việt cũng khá rối rắm, nhưng các cố đạo đă t́m được cái chữ phù hợp với nó rồi

Và quan trọng là người Pháp dựa vào các cố đạo để trị an, định h́nh sự cai trị. Thành ra với chữ Quốc Ngữ đă có sẵn, các cố đạo đă tác động vào việc chữ

Quốc Ngữ chánh thức được áp dụng đại trà

Sau 1862 Nam Kỳ thành thuộc địa của Pháp

Nghị định 82 kư ngày 6. 4. 1878 Thống đốc Nam Kỳ Lafont kư ra cái mốc hẹn trong bốn năm (tức năm 1882) th́ toàn Nam Kỳ phải chuyển hẳn sang chữ Quốc Ngữ

“Kể từ mùng một Tháng Giêng năm 1882 tất cả văn kiện chánh thức, nghị định, quyết định, lịnh, án ṭa, chỉ thị... sẽ viết, kư tên và công bố bằng chữ Quốc Ngữ; nhân viên nào không thể viết thơ từ bằng chữ Quốc ngữ sẽ không được bổ nhậm và thăng thưởng trong ngạch phủ, huyện và tổng...”

Tức là thủ tiêu chữ Hán và phải học chữ Quốc Ngữ

Chế độ khoa cử theo kiểu Nho bị băi bỏ hoàn toàn ở Miền Đông Nam Kỳ sau khoa thi năm 1861 và ở Miền Tây Nam Kỳ sau khoa thi năm 1864

Người Pháp bắt cơ quan công quyền làng xă tổng, quận, tỉnh phải xài chữ Quốc Ngữ, khuyến khích các thầy đồ dạy thêm chữ Quốc Ngữ với mức thưởng 200 franc/năm

Các hương chức làng xă viết chữ Quốc Ngữ được giảm hoặc miễn thuế thân, thưởng tiền cho những làng nào viết được công văn bằng chữ Quốc Ngữ
Jean Baptiste Pétrus Trương Vĩnh Kư (1837-1898) là người có công khuyếch trương quốc ngữ ra đại chúng, ông đem nó qua văn chương

Năm 1886 in “Chuyện đời xưa”

Petrus Kư viết thế này:"Người ta dùng sách này mà học tiếng th́ lấy làm có ích. V́ trong ấy cách nói chính là cách nói Annam ṛng"

Tuy nhiên chữ Quốc Ngữ vẫn bị chống đối dữ dội, nhứt là giới tôn giáo, là bên Phật giáo và phe Nho gia

Pétrus Trương Vĩnh Kư là một trong ba nhà học giả nổi tiếng đi tiên phuông về chữ Quốc Ngữ Việt Nam ḿnh

Đọc cuốn “Sài G̣n năm xưa” của học giả Vương Hồng Sển, ta sẽ thấy ông Sển khâm phục ba ông học giả xuất sắc này là Trương Vĩnh Kư, Trương Minh Kư và Huỳnh Tịnh Của

Vương Hồng Sển viết:

“Ba ông minh triết bảo thân, gần bùn chẳng nhuốm mùi bùn, không ham “đục nước béo c̣” như ai, chỉ say đạo lư và học hỏi, sống đất Tào mà ḷng giữ Hớn, thác không tiếng nhơ, thấy đó mà mừng thầm nước nhà những cơn ba đào sóng gió c̣n hiếm người xứng danh học tṛ cửa Khổng
Nghĩ cho tay dao tay súng làm nên sự nghiệp như những nhà kia, nhưng khi nhắm mắt, sự nghiệp hoen ố lụn bại, sao bằng một ng̣i bút, một nghiên mực, sự nghiệp văn chương trường cửu của ba ông tiền bối này mới thật quư và thơm”

Trương Vĩnh Kư, Trương Minh Kư bị chống đối dữ dội

Nhân vật lịch sử Tôn Thọ Tường (1825 - 1877) là một điển h́nh. Cuộc bút chiến giữa phe Phan Văn Trị và Tôn Thọ Tường nổ ra với 24 bài thơ xướng họa ra đă góp vào nền văn học Nam Kỳ những bài thơ tuyệt phẩm thực chất đó là cuộc chiên giữa chữ Quốc Ngữ, giữa người ủng hộ Pháp xài chữ Quốc Ngữ và phe thủ cựu

Tôn Thọ Tường có tài, một ḿnh ông bút chiến với phe thủ cựu ông Phan Văn Trị trong đó có cả ông Bùi Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt
Phe cựu Phan Văn Trị:

"Anh hỡi Tôn Quyền anh có biết
Trai ngay thờ chúa, gái thờ chồng"

Phe mới Tôn Thọ Tường trả lời:

"Ai về nhắn với Châu Công Cẩn
Thà mất ḷng anh đặng bụng chồng"

Học giả Vương Hồng Sển viết:

:"Hai ông Trương Vĩnh Kư và Tôn Thọ Tường mà có người đ̣i hạ bệ, th́ ḿnh là cái thá ǵ?"

Người Nam Kỳ lúc đầu cũng chống, nhà giàu không cho con cháu đi học chữ Quốc Ngữ , không cho ra trường học, họ ép và mướn trẻ chăn châu, ở đợ đi học thế con ḿnh. Tuy nhiên chỉ vài năm sau th́ hết v́ họ hiểu rằng học chữ Quốc Ngữ là quyền lợi của chính họ

"Đèn Sài G̣n ngọn xanh ngọn đỏ
Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu
Anh về học lấy chữ nho
Chín trăng em đợi, mười thu em chờ"

Chữ Quốc Ngữ c̣n bị chống đối, nếu áp Tiếng Pháp vô c̣n bị chống đối cỡ nào? Mà có nhiều tiếng nói chống đối ở phe thân Pháp nữa

Nhà văn hóa Đông Hồ viết:“Những người phản đối việc học quốc ngữ là định muốn lấy chữ Pháp thay vào làm quốc văn Nam Việt”

Ngày 26 tháng 11 âm lịch năm Mậu Ngọ tức ngày 28.12.1918 vua Khải Định chánh thức ra dụ băi bỏ khoa cử Nho học và học Quốc Ngữ, vậy là năm 1919 là năm cuối mở khoa thi ở Huế

Thấy chữ Quốc Ngữ là thích hợp nên các nhà nho Duy Tân và Đông Kinh Nghĩa Thục hiệp sức kêu gọi người dân tham gia học

Chữ Quốc Ngữ được người Pháp kêu là “chữ viết của tiếng An Nam bằng mẫu tự La tinh”, người Nam Kỳ bấy giờ kêu là “Quốc Âm chữ Lang sa”, hay “ tiếng An Nam chữ Lang sa”...

Petrus Kư không gọi chữ Quốc Ngữ, ông kêu là”Tiếng An Nam ṛng”. Một số nhà nghiên cứu kêu là Việt Ngữ

Chúng ta đă có chữ viết, chữ quốc ngữ La Tinh tuy là "vay mượn" Tây , nhưng nó thể hiện đúng nhứt về cấu trúc cách nói, ngữ âm của dân tộc Việt, chỉ có 24 chữ ráp lại , thêm dấu là xong, thể hiện đúng h́nh và thanh của dân tộc Việt

Chữ quốc ngữ ghi được âm nhấn nhá của người Việt bằng những dấu như dấu nặng, dấu hỏi, dấu ngă, dấu ngang, dấu sắc, dấu huyền...

Chữ quốc ngữ Việt Nam đă hoàn chỉnh từ khi Pháp áp dụng hệ thống giáo dục tú tài 1 ,tú tài 2 toàn Nam Kỳ và sau đó ṭan Việt Nam

Hầu như người Việt Nam nào cũng biết viết, biết đọc, đó là cái cơ bản nhứt của chữ quốc ngữ

Chúng ta có 24 chữ cái “a,bê,xê,đê….” đúng tiêu chuẩn La Tinh. Chữ viết Việt tộc cơ bản hoàn chỉnh, không cần đào bới, cải cách, cải tiến ǵ nữa

Ngày xưa muốn thông thạo chữ Hán th́ phải thuộc ḷng trung b́nh hơn 8000 kư tự tượng h́nh. Loại thông thái là thuộc hơn 91.251 chữ . Trong khi quốc ngữ chỉ có 24 chữ và ghép lại. Con nít VN học hết lớp 1 đọc báo rần rần

Dân tộc Việt vậy là đă hoàn chỉnh, Việt Ngữ-Quốc Ngữ đă hoàn chỉnh, không c̣n cần cái ǵ nữa

Gia Định báo ấn bản đầu tiên vào ngày 15/4/1865 tại Sài G̣n là tờ báo đầu tiên của VN. Trương Vĩnh Kư làm tổng tài, tờ báo có thêm mục biên khảo, thơ văn, lịch sử…

Gia Định báo góp phần cổ vơ việc học chữ Quốc Ngữ, bày ra các loại văn xuôi

Những trường trung học ở Nam Kỳ dạy chữ Quốc Ngữ đồng loạt

Dân Nam Kỳ đậu bằng Thành Chung (Diplôme) nhiều vô kể, xứ sở của những ông Đốc Phủ Sứ, của những ông bác sĩ, bác vật, kỹ sư Pháp về

Người Nam Kỳ làm chánh trị, có quân đội riêng đối đầu với VM vào những năm 1945, rồi làm nền tạo ra Việt Nam Cộng Ḥa

Các bạn biết là, những người Tây học thời đó nói tiếng Pháp sành sỏi, nhưng tŕnh độ Nho học của họ cũng rất đáng nể. Họ xử sự “nhơn lễ nghĩa trí tín”, sống có tư cách, thẳng thuốm

Kết luận:

Người Pháp chọn v́ quốc ngữ có sẵn, nó tiện lợi v́ dựa vào âm tiết của dân tộc Việt, v́ các cố đạo đă có sẵn trường lớp, cũng là cách mới nhưng dựa vào âm tiết của chính dân tộc Việt

Lịch sử VN ghi rằng thực dân Pháp chiếm Việt Nam là bốc lột và khai thác thuộc địa. Điều này hoàn toàn đúng

Tuy nhiên để “khai thác” th́ họ phải “khai hóa” trước đă, khai hóa văn minh để khai thác kinh tế

Người Pháp phải đầu tư từ giáo dục tới văn hóa, cơ sở hạ tầng, xây dựng thành phố, đường xá, đường xe lửa, bến cảng, xẻ kinh ngang dọc để khai hoang đất, xổ phèn và thoát lũ…

Trong ṿng 80 năm Pháp đổ tiền, đổ công sức không biết bao nhiêu để có được một Nam Kỳ văn minh sau này

Tới năm 1936 người Pháp đă đào 1360 km kinh chính, 2500 km kinh phụ với kinh phí lên đến 58 triệu quan ở lục tỉnh làm ruộng đất sanh sôi ra, sản lượng lúa vượt bậc để xuất khẩu ra toàn thế giới

Là một người Nam Kỳ chánh gốc , có tham gia vô bộ máy của Pháp, ông Hồ Biểu Chánh viết trong những ḍng đầu cuốn tiểu thuyết ‘Tơ hồng vương vần” về chuyện Pháp-Việt, có thể nói ông thân Pháp, song về lư lẽ mà luận th́ nói không hề sai

Xin chép ra như sau:

(Trích)
“ Mới chiếm trị đất Nam Việt, nước Pháp phải bận lo nhiều nỗi
- Lo chia 6 tỉnh cũ ra làm 20 hạt mới, rồi đặt quan Tham biện ở mỗi hạt đặng sắp đặt cơ quan hành chánh cho phù hạp với cách cai trị mới mà không đụng chạm đến phong hoá cổ truyền
- Lo xây dựng an ninh cho nhơn dân được lạc nghiệp an cư, từ thành thị vô tới đồng bái
- Lo tổ chức đường giao thông cho tiện bề mậu dịch.

Tuy phải gấp rút xây nền hành chánh, người Pháp cũng không bỏ dẹp vấn đề thâu phục nhơn tâm.

Những người sống trong nấy năm cuối cùng của thế kỷ 19, là khoảng từ năm 1895 tới năm 1900, ai cũng nhận Pháp mới chiếm trị Nam Việt có 30 năm mà đă khởi công xây dựng một nền văn hoá mới để hướng dẫn tâm hồn Việt Nam quay về phía Âu Tây.

Mới lúc ấy mà đă:

a) Có mấy người Việt thông minh được chọn lựa đem qua Pháp mà giáo hoá. Ấy là các cụ Diệp văn Cường, Trương Minh Kư, Bùi quang Nhơn, Bùi quang Chiêu, Nguyễn trọng Quảng.

b) Cho xuất bản Gia Định Báo với Thông Loại khóa tŕnh, lại c̣n cho in nhiều loại sách để phổ thông chữ quốc ngữ, do các cụ Trương Vĩnh Kư, Trương Minh Kư và Huỳnh Tịnh Của chăm nom.

c) Mở trường Thông Ngôn (Collège des Interprètes) để cho những cụ đi học bên Pháp trở về hiệp với mấy cụ nho học uyên thâm dạy các quan Tham Biện, các nhân viên hành chánh và các sĩ quan trong Hải Quân và Lục Quân học tiếng Việt, mà cũng dạy luôn sử kư cùng phong hoá của người Việt nữa.

Mà điều cần yếu của người Pháp trong lúc ấy là phải có nhiều người bổn thổ phụ sự trong chức vụ thông ngôn, kư lục, để giúp các ngành hành chánh cùng công thương. Muốn cho được thỏa măn nhu cầu khẩn cấp này, người ta phải lo lập liền:

a) Một trường sư phạm trung đẳng tại Sài g̣n để đào tạo giáo viên đay các trường sơ đẳng ở mấy hạt.

b) Một trường trung học phổ thông, phân làm hai chặng, bắt đầu học tại Mỹ Tho hai năm rồi lên Sài g̣n học tiếp hai năm nữa mới được bổ dụng làm thông ngôn, kư lục. Học sinh hai trường này đều được hưởng học bổng, nghĩa là được nhà trường nuôi ăn, ngủ và phát quần áo, giày nón, khỏi trả tiền chi hết.

c) Lần lượt mở trường sơ đẳng Pháp Việt tại châu thành các hạt để cung cấp cho trrường Trung học Mỹ Tho.

Nhà trường Pháp th́ sốt sắng xây nền giáo dục mới, nhưng nhơn dân Nam Việt coi bộ hẫng hờ, chưa quyết yểm cựu nghinh tân.

V́ dân trí c̣n lơ lửng như vậy, nên những trường tân học mở ra không được dân chúng hoan nghinh cho lắm, thành thử nhà nước tốn công tốn của rất nhiều, mà mỗi năm trường sư phạm chỉ đào tạo chừng 30 giáo viên, c̣n trường Trung học Chasseloup-Laubat đào tạo lối 50 thông ngôn, kư lục.

Không phải người Việt Nam không ham học nên trường tân học lập ra không được thạnh phát. Không phải vậy.

Người Việt ham học lắm chớ. Họ hẫng hờ với tân học nhưng họ vẫn hăng hái với nho học luôn luôn. Ấy là họ thỏa thích món ăn tinh thần cũ của họ xưa nay, họ say mến, họ quí trọng, họ không đành bỏ mà dùng món ăn tinh thần khác, chưa chắc cái khác đó mà ngon ngọt béo bùi hơn cái của họ đă có sẵn” (Hết trích)

Dầu là chữ Quốc Ngữ được dạy ở Miền Nam song trường học cũng dạy Tiếng Pháp song hành. Rồi khi du học sẽ có một lớp người Việt nói Tiếng Pháp rất giỏi

Văn hóa Pháp ảnh hưởng ở Miền Nam rất nhiều. Thí dụ nước phông tên (fontaine),Líp ba ga (libre bagage), ôm vô lăng (volant), lơ xe (contrôleur), sà bông (Savon)...

Nam Kỳ có khăn mu soa (mouchoir), mặc xoa rê (soirée), đứng trên ban công (balcon), ăn bánh ḿ ba ghét( baguette), nhét giăm bông (jambon) ,xúc xích (saucisse), patê (paté) rồi uống la de ( la bière ) và bia ( bière).

H́nh: Lễ khánh thành tượng học giả Trương Vĩnh Kư ở một góc công viên trên đường Norodom . Tượng do ông Trần Chánh Chiếu quyên góp khắp Nam Kỳ lục tỉnh để đúc

Bức tượng tôn vinh Petrus Kư tại Sài G̣n ngày 19 tháng 12 năm 1927

Trong “Trương Vĩnh Kư hành trạng” ông Đặng Thúc Liêng (1867-1945) kể lại rằng:

“Năm 1908, Nam Kỳ sĩ phu đồng đứng xin chánh phủ chuẩn cho dựng h́nh Vĩnh Kư để làm kỷ niệm, chánh phủ phê y. Lúc ấy tôi đương chấp bút Nông Cổ và Lục Tỉnh Tân Văn, có ít lời vận động quyên ngân, chẳng mấy ngày mà công chúng hỉ cúng rất nhiều”

Tức là vụ dựng tượng Petrus Kư là của dân Nam Kỳ đóng góp tiền trong 19 năm trời

Bức tượng đồng Petrus Kư đặt trong công viên nằm trên đường Boulevard Norodom (Đại Lộ Thống Nhứt) trước Dinh Độc Lập gần nhà thờ Đức Bà Sài G̣n, nh́n đẹp, có ư nghĩa

Sau 1975 mấy người "đồng bào","anh em" hạ bệ tượng v́ kết án đó là của thực dân Pháp.

Nguyễn Gia Việt