Ngủ Hổ Tướng

VIỆT NAM CỘNG HOÀ
Ngủ Hổ Tướng,
Nước Mất, Mất Theo Nước !!
" Anh hùng mạc bả doanh thâu luận
Vũ trụ trường khan tiết nghĩa lưu "

T.K. Huân

******&&&&******

1 - Thiếu Tướng NGUYỄN KHOA NAM
( Tư Lịnh Quân Đoàn IV - Quân Khu IV )

Vận nước nổi trôi đến bước cùng
Tướng Quân thà chết với non sông
Tang bồng xếp lại... hoa dù đỏ
Khí tiết vang theo... tiếng súng đồng
Đất Việt xót thương cây rũ lá ... !
Sông Hương tiếc nhớ nước khô ḍng... !
Nghiêm ḿnh kính cẩn trang trung liệt
Gương sáng muôn đời... sóng Cửu Long... !
Nguyễn Minh Thanh
Nguyễn Khoa Nam (1927-1975), sanh tại Đà Nẵng, nguyên quán ở làng An Cựu Tây, Hương Thuỷ, Thừa Thiên. Con Ông Nguyễn Khoa Túc và Bà Tôn Nữ Ngọc Cẩn.
Theo học khóa 3 Đống Đa tại trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, khai giảng ngày 1 tháng 4 năm 1953. Ngày 1 tháng 12 cùng năm, tốt nghiệp cấp bậc Thiếu úy.
Gia nhập đơn vị Nhảy dù, ông được cử làm Trung đội trưởng thuộc Đại đội 1 trong Tiểu đoàn 7 Nhảy Dù. Tiến dần lên đến Tư Lệnh Phó SĐ Nhảy Dù. Chuyển qua Bộ Binh, Ông làm Tư Lệnh SĐ7BB. Chức vụ sau cùng Tư Lệnh Quân Đoàn IV - Quân Khu IV tại Cần Thơ.
Sáng ngày 1 tháng 5, Ông vận bộ quân phục Đại lễ của Quân đội, và vào khoảng 6 giờ 30 sáng Ông dùng súng Browning bắn vào màng tang tự sát tại chiếc ghế làm việc trong tư dinh.
Tro Cốt của Ông thờ ở Chùa Quảng Hương Già Lam, đường Lê Quang Định số 498/11 Phường 1, G̣ Vấp, Sài G̣n.

********&&&& *******

2 - Thiếu Tướng PHẠM - VĂN - PHÚ
( Tư Lịnh Quân Đoàn II - Quân Khu II )

Người xứ Hà Đông gốc Nhảy Dù
Dấu chân dày dạn các quân khu
Điện Biên kịch chiến rừng xơ xác
Lào Hạ giao tranh khói mịt mù
Tây Huế bảo toàn an một thuở
Ban Mê thất thủ hận... nghìn thu...!
Nghiêng bầu độc dược... hồn bay bổng
Mây trắng trời xanh... biệt Cánh Dù...!!
Nguyễn Minh Thanh
Phạm Văn Phú (1928-1975), sanh tại Hà Đông, gốc Nhảy dù. Ông xuất thân từ
trường Vơ bị Liên Quân - Đà Lạt khoá 8 giữa năm 1952.
Tại chiến trường Điện Biên Phủ vô cùng sôi động, ở cấp bậc Trung Úy ông đă chỉ huy một đại đội của Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù. Sau hơn một hơn tháng giao tranh ác liệt với Việt Minh, ngày 16 tháng 4 Ông được thăng cấp Đại Úy tại mặt trận khi vừa đúng 25 tuổi.
Ngày 7/5/1954, Điện Biên Phủ thất thủ, PVP bị địch quân bắt giam. Sau 20/7/1954 (Hiệp định Genève), Ông được trao trả và tiếp tục trong quân lực VNCH.
Ông trải qua nhiều đơn vị chiến đấu. Chức vụ sau cùng Tư Lệnh Quân Đoàn II - Quân Khu II tại Pleiku.
Sáng ngày 29 tháng 4 tại tư dinh Sài G̣n, Ông tự sát bằng một liều Choloroquine cực mạnh. Ông bị hôn mê đến 11 giờ 15 trưa ngày 30 tháng 4, tỉnh lại thều thào hỏi phu nhân về hiện t́nh chiến cuộc. Khi được biết Dương Văn Minh đă ra lệnh cho toàn thể Quân lực Việt Nam Cộng ḥa buông súng đầu hàng, Ông liền từ trần!!

******&&&&*******
3 - Chuẩn Tướng LÊ VĂN HƯNG
(Tư Lịnh Phó Quân Đoàn IV - Quân Khu IV )

Núi sông nghiêng ngửa phận làm trai
Quân ngũ tòng chinh chí miệt mài
Dũng lược U - Minh xung trận địa
Kiên cường An - Lộc phá trùng vây
Cờ tàn... sông núi ngùi ly biệt
Vận mạt... anh hùng ngậm đắng cay
Phòng ngủ... kinh hoàng vang tiếng súng
Ngoài trời đêm quạnh... ánh sao bay...
Nguyễn Minh Thanh
Lê Văn Hưng (1933 - 1975), người Hóc Môn, Gia Định, mồ côi cha. Theo học khóa 5 V́ Dân tại trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức năm 1954, tốt nghiệp cấp bậc Thiếu úy.
Ra trường Ông giữ những chức vụ tác chiến. Có lúc chuyển sang Hành Chánh Trưởng ty Cảnh Sát, rồi Quận Trưởng, Tỉnh Trưởng... Sau chuyển qua Bộ Binh làm Tư Lệnh SĐ5 / BB căn cứ Lai Khê, B́nh Dương. Tháng 3 năm 1972, Ông được thăng cấp Chuẩn tướng.
Sau chiến trận "Mùa hè đỏ lửa" 1972, Ông được tặng thưởng tại mặt trận Đệ Tam đẳng Bảo quốc Huân chương kèm Anh dũng Bội tinh với nhành Dương liễu, và Huy chương đặc biệt "B́nh Long Anh dũng".
Chức vụ sau cùng Tư Lệnh Phó Quân Đoàn IV - Quân Khu IV tại Cần Thơ.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Ông tự sát bằng súng lục bắn vào tim lúc 20 giờ 45.
Trước khi tự sát, Ông nói:" - Tôi bằng ḷng chọn cái chết, tướng mà không giữ được nước, không bảo vệ được thành, th́ phải chết theo thành."

******&&&&******

4 - Chuẩn Tướng TRẦN VĂN HAI
( Tư Lịnh Sư Đoàn 7 BB )

Hải đăng toả sáng giữa sương mù
Liêm chính kiêu hùng dũng trí mưu
Tỉnh Trưởng Phú Yên nhiều mến mộ
Chỉ Huy Cảnh Sát lúc cương nhu
Khe Sanh tuyến lửa: - thăm binh sĩ*
Trận điạ Chư Pao: - diệt giặc thù
Nước mất ngậm ngùi... khui... độc dược
Phương danh trăng chiếu... rạng ngàn thu...!!
Nguyễn Minh Thanh
Trần Văn Hai (1925-1975): người G̣ Công trong gia đ́nh điền chủ. Theo học khóa 7 Ngô Quyền tại trường Vơ bị Liên quân Đà Lạt, khai giảng ngày 1 tháng 5 năm 1952. Cùng khoá với Thủ Khoa Trương Quang Ân. Sau này là Th/ Tướng Trương Quang Ân.
Qua những chức vụ Tiểu đoàn trưởng, Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Biệt động quân Dục Mỹ. Tỉnh trưởng tỉnh Phú Yên. Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Biệt động quân Trung ương. Tổng Giám Đốc Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia..., Tư Lịnh Phó Quân Đoàn II.
Chức vụ sau cùng Tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ Binh tại căn cứ Đồng Tâm Mỹ Tho.
Trước sự kiện ngày 30 tháng 4 khoảng hơn một tuần, đích thân Tổng thống Thiệu cho máy bay riêng xuống đón Ông di tản, nhưng Ông từ chối.
Đặc biệt, Ông đã nhờ người đem tiền về cho Mẹ và báo tin Ông bình an, rồi mới tự sát..!!
Nửa đêm về sáng ngày 1 tháng 5, Ông dùng thuốc Optalidon nguyên ống 20 viên tuẫn tiết tại pḥng làm việc!!
*Căn cứ Khe Sanh ( Quảng Trị ) năm 1968, ngoài Lữ Đoàn Thủy Quân Lục Chiến Mỹ, còn có Tiểu Đoàn 37 BĐQ/ Việt Nam, Đ.Úy Hoàng Phổ làm TĐT. BĐQ bố trí vòng ngoài quân đội Mỹ, hướng Đông nguy hiểm nhứt. VC tấn công tuyến BĐQ nhiều lần nhưng chúng đều thất bại. Lần sau cùng là: 29 - 2 - 1968.
Bất chấp hiểm nguy, Đại Tá Trần Văn Hai đã tới thăm anh em tận tuyến lửa, nơi đây...!!

******&&&&******

5 - Chuẩn Tướng LÊ NGUYÊN VỸ
( Tư Lịnh Sư Đoàn 5 BB )

Chiều nghiêng thành quách đã điêu tàn
Thương tiếc anh hùng thuở dọc ngang
Cương trực thanh liêm không vị nể
Kiên trì nguy hiểm chẳng từ nan
Can trường An - Lộc: - chờ Tank đến
Bất khuất Lai - Khê: - gác chuyện hàng
Tiếng súng sau cùng vang... vọng mãi...
Ngàn năm hương khói tưởng... linh nhan.
Nguyễn Minh Thanh
Lê Nguyên Vỹ (1933-1975) người Sơn Tây, thuộc gia tộc "Lê Nguyên" danh giá. Theo học khóa 2 Lê Lợi tại trường Vơ bị Địa phương Trung Việt ở Huế, khai giảng năm 1951, tốt nghiệp Chuẩn úy hiện dịch.
Phục vụ đơn vị Nhảy dù, Quận trưởng Quận Bến Cát, tỉnh B́nh Dương.
Tiểu đoàn trưởng, Trung đoàn trưởng, Tư lệnh phó Sư đoàn 5 Bộ Binh
Ngày Quốc khánh Đệ Nhị Cộng ḥa 1 tháng 11 năm 1974, ông được thăng cấp Chuẩn Tướng. Ngày 7 tháng 11 cùng năm, Ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh tại Lai Khê, Bình Dương.
LNV là người hạ chiếc Xe Tăng đầu tiên của VC trong trận An Lộc 1972. Ông tổ chức " Tiểu Tổ Diệt Tăng "sẵn sàng nghinh địch và săn Tăng.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi nghe Dương Văn Minh kêu gọi chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng ḥa buông súng. Ông ra lệnh cho binh sĩ treo cờ trắng trước căn cứ và cho thuộc cấp giải tán. Sau đó ông dùng khẩu Beretta 6.35 bắn vào đầu tự sát tại Bộ Tư lệnh Lai Khê!!
Người nhà đã đem Tro Cốt của Ông về thờ trong Phủ Thờ gia tộc " Lê Nguyên " tại Sơn Tây.
Lời phụ bàn:
1 - Nỗi Đau Của Người Chiến Bại:
Thế Chiến II chấm dứt với sự đầu hàng vô điều kiện của Nhựt Bổn. Tương truyền có rất nhiều chiến sĩ Nhựt đã dũng liệt tuẫn tiết trong lúc ấy.
Dưới đây là một trong những bài thơ quí dũng sĩ còn để laị. Xin chép ra... hoà theo niềm cảm thông sâu sắc do sự kết thúc giống nhau giữa Nhựt Bổn và Việt Nam Cộng Hoà cực kỳ bi đát!!
Đó là" Bại Trận - Đầu Hàng vô điều kiện...!! "
Mà, người viết cũng rơi vào trong cuộc, trong khúc quanh lịch sử. Ngậm ngùi... lặn ngụp trong khoang Huyết Sử...!! Với Niềm Đau không nguôi...!!
Thơ Tuyệt Mạng
" Ải Bắc từ khi cách cố hương
Tháng ngày thắm thoát mấy năm trường
Ví hay số kiế́p chim lìa cánh
Thà để thân nầy ngựa bọc xương
Nửa phút chưa nguôi thù Quảng Đảo
Ngàn năm há tuyệt giống Phù Tang
Ngây thơ em hãy khuyên đàn trẻ
Vì nước cha mầy để tấm gương...!! "
( Khuyết danh )
2 - Lưu Phương Muôn Thuở:
Trong " Tuyệt Mệnh Thi ", Ông Thủ Khoa Huân có câu:
" Anh hùng mạc bả doanh thâu luận
Vũ trụ trường khan tiết nghĩa lưu "
( Hãy lắng nghĩa trung lưu vũ trụ
Chớ đem thành bại luận anh hùng )
Đem chiếu rọi hai câu thơ trên vào quí Tướng Quân, thấy rất phù hợp, tương thích.
Quí Tướng Quân đã " Vũ trụ trường khan tiết nghĩa lưu ".
Đã để lại cho Quân Lực VNCH nói riêng, cho dân tộc VN nói chung nỗi niềm hãnh diện và tiếc thương vô biên... Và cho hậu thế ánh trăng rằm rạng rỡ thiên thu...
Quí Ngài đã theo gương:
Vua Thục Phán, Quí Bà Trưng, Bà Triệu... Nước mất, mất theo Nước...!!
Quí Ông Võ Tánh, Ngô Tùng Châu, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, ... Thành mất, mất theo Thành...!!
Ngoài quí Tướng Quân ra,
Trong sự kiện Quốc Hận 30 - 4 - 1975 còn nhiều, rất nhiều những chiến sĩ: sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ... đã " Nước mất, mất theo Nước ". Chưa kể những thành phần chức vụ, dân sự: Ngoại Trưởng Trần Chánh Thành..., gia đình Bác Sĩ Lý Hồng Chương...
Nay, Tổ Quốc đang cơn Vận Bỉ, mong ngày Thái Dương tỏ rạng, hầu sưu tầm đầy đủ tất cả những bậc phi thường ấy. Những người đã oanh liệt, hoặc âm thầm lẫm liệt tuẫn tiết...để lập đàn tưởng niệm tôn vinh!! Mong thay...!!
Với tấm lòng thành kính, nơi đây, có bài thơ nhỏ xin Tưởng Niệm toàn thể Quý: quân, dân, viên chức VNCH đã Lẫm Liệt Tuẫn Tiết trong sự kiện: " Quốc Hận 30 - 4 - 1975 ":
Những Anh Hùng...
Nước Mất, Mất Theo Nước !!
Dân quốc lầm than oán khắp nơi...
Dấn thân bảo vệ há ngồi chơi...?!
Tang bồng giai mộng sông Xoài Mút...
Hồ thỉ diễm mơ trống Ngọc Hồi...
Thế cuộc Quốc Kỳ ngùi...nước cuốn...!!
Tuẫn thân hùng khí rạng... trăng khơi...!!
Than ôi...! Sông Núi không ôm được...
Thì sống làm chi... chật đất trời...!!
Nguyễn Minh Thanh
Hỡi những người của lịch sử của thiên thu, xin nghiêm mình kính cẩn chào quí Anh Linh... Nguyện cầu quí Anh Linh an lạc nơi cõi vĩnh hằng.
Và xin mượn câu nói người xưa :
" Nhân cố hữu tử, tử hoặc trọng ư thái sơn, hoặc khinh ư hồng mao " để thay lời kết.
Ôi, Quí Liệt Vị đã xem cái chết nhẹ tựa lông chim hồng. Phương danh Quí Liệt Vị " trường khan tiết nghĩa lưu ".
Quí Liệt Vị chính là:
" Anh hùng tử, khí hùng bất tử
Thiên thu trường cữu Việt sơn xuyên "
Anh Linh Quí Liệt Vị́ chan hoà vào...
- Những dãy núi: Trường Sơn, Bân sơn, Thạch Bi sơn, Thất Sơn, Bà Đen...
- Những dòng sông: Cửu Long, Đồng Nai, Đà Rằng, Sông Côn, Dabla, Hương Giang, Mỹ Chánh, Thạch Hãn, Bến Hải...
Và trên những dãy núi ấy..., những dòng sông ấy...
Ngàn năm mây trắng vẫn còn bay... lững lơ... ngơ ngẩn... ngậm ngùi...tiếc thương...Quí Lịêt Vị...!! Ôi, cao cả thay, cao quí thay!!
Bây giờ, đêm tối dần tan, bình minh đang ló dạng:
" Ngoài trời hững sáng ban mai...
Tấc lòng Cố Quốc cờ bay... trập trùng... "
Nguyễn Minh Thanh cẩn tác, Ga, 2019 - Mùa Quốc Hận !!

Phụ chú:
*Tuyệt Mệnh Thi
Hăn mă nan kham vị quốc cừu,
Chỉ nhân binh bại trí thân hưu.
Anh hùng mạc bả doanh thâu luận,
Vũ trụ trường khan tiết nghĩa lưu.
Vô bố dĩ kinh Hồ lỗ phách,
Bất hàng cam đoạn tướng quân đầu.
Đương niên Tho thuỷ ba lưu huyết,
Long đảo thu phong khởi mộ sầu.

T. K. HUÂN

Thơ Tuyệt Mạng
Gian nan vó ngựa diệt thù chung
Chỉ tại thua binh mạng phải cùng
Hăy lắng nghĩa trung lưu vũ trụ
Chớ đem thành bại luận anh hùng
Nổi xung giặc dữ kinh hồn khắp
Liều thác thân tàn rạng tiếng chung
Sóng nước Mỹ Tho pha máu đỏ
Gío Thu chiều úa nhuộm cồn Rồng..!!
Nguyễn Minh Thanh cẩn dịch
*Đoạn sông Rạch Gầm - Xoài Mút: cách thành phố Mỹ Tho hơn 10 km hướng Tây Bắc. Ngày 20 tháng 1 năm 1785. Khi quân Xiêm lọt vào trận địa, pháo binh Tây Sơn Nguyễn Huệ bất ngờ tấn công, Đồng thời, bộ binh và thủy quân xông ra tiêu diệt gần như toàn bộ địch quân.
*Đồn Ngọc Hồi: Sáng mồng 5 Tết Kỷ Dậu (1789 ), vua Quang Trung hạ lệnh đánh đồn Ngọc Hồi phía Nam Thăng Long. Đồn, do phó tướng Hứa Thế Hanh chỉ huy. Đồn thất thủ, bị quân Tây Sơn thiêu rụi. Hứa Thế Hanh chạy vắt giò lên cổ...

Tham khảo: các trang Web: - NKN, PVP, LVH, TVH, LNV...
- Thủ Khoa Huân...
- Hán Việt Từ Điển - ĐDA



 

 


Thơ

Trong tù không có xuân
Xuân này con vẫn chưa về
Mùa xuân Hà Nội
Nhớ xuân này lại nhớ xuân xưa
Ngày ngôi hai xuống thế
New Year of the Pig Wishes - 2019
Giáng Sinh nơi vùng xa
Giáng Sinh buồn  
Kính chúc muà Giáng Sinh 2018  
Christmas Eve Prayers

Bài thơ mùa Giáng Sinh
Phong-Hoa-Tuyết-Nguyệt


Mất!  
Yêu nhau ngàn kiếp  
Chúng ḿnh nợ nhau  
Một chút t́nh quê  
Đưa Thu vào mộng

Bia mộ ngàn thu  
Cơn mưa chiều

Nh́n dă quỳ nhớ  
Thu rồi anh!
Quên đi

Ngậm ngùi  
Hiền!  
Giao mùa  
Vinh quang đại đồng  
Rứt ray t́nh MẸ  
Thương!
Mới thu mà tuyết rơi  
Ai sẽ ?  
Xóm Cỏ t́nh quê
Trăng  
Đừng 
Ngậm ngùi  
Chút t́nh cho Thủ Đức  
Làm quen  
Nhổ bỏ rồi trồng! 
Đắng nhớ thương  
Chồng tôi cưỡi ngựa vu quy  
40 năm kỷ niệm cưới  
Bốn ngàn năm tuổi đá  
Vô cảng Cam Ranh !  
Nồi chè đậu xanh

Sắc thu  
Thu ơi! Đưa lá giùm ai 
Khi tôi chết đừng đưa tôi ra biển 
Tại đôi mắt đó  
Bài thơ Quê Hương  
Hải ngoại thời nay  
Vào thu  
Khắc khoải sầu vương  
Mỗi độ thu về 
Tôi sinh ra giữa ḷng cộng sản 
Mẹo nhớ Hỏi - Ngă  
Thu viễn xứ  
Hoa cúc vàng
Sư tử giận chi?  
Vết cũ nặng ḷng …  
Lấy bút làm vũ khí  
Mùa thu viễn xứ 
Con đường Việt Nam  
Bao giờ là bây giờ  
T́nh hờ  
T́nh thơ anh viết cho em  
Đỏ khoe giàu!  
Bồ đào mỹ tửu 
Buồn tiễn biệt  
Công cầm dù  
Nhà 
Hoàng Kiều nghị quyết  
Ngóng về đất Mẹ
Trời đất quỷ thần!  
Đêm lạnh trong tù  
Rơ ra chân chính, ngụy tà!  
Hữu xạ tự nhiên…  
Cảnh đời  
Đủ rồi ai ơi!  
Bến yêu  
Trải ḷng với người thương binh đồng đội cũ  
Trở giấc mơ hoa  
Nhớ màu hoa tím 
Ta sẽ về thăm lại núi sông !!  
Dân cần vần ngân!  
Hạt lúa ra đi 
Rồi sẽ m áp em ơi!
Lục bát giă từ  
Bài thơ của một anh thương binh. Cay đắng, ngậm ngùi !  
Đi t́m thiên thai  
Đêm mơ hồi quốc 
Cháu chắt chúng ta  
Ngoan đạo  
Vô vọng  
Dáng t́nh  
Tuyệt t́nh ca  
Xuyến xao  
Đă đến đường cùng
Anh yêu em
Nắng tươi thật hồng
Giữ t́nh
Tạ ơn em
Liên lạc
Mưa ướt tràn ḷng thương nhớ…  
Đánh địch  
Nhớ miệt vườn  
Yêu ai 
Đỉa? 
T́nh Cha 
Đại lộ kinh hoàng  
Vận nước, ḷng dân  
Nhớ làm sao nhớ  
Vườn Tao Ngộ  
My Father  
Dại ơi là dại!  
Khét tiếng  
T́nh khúc yêu em  
Em bước qua cầu  
Nỗi buồn hải ngoại  
Cướp nhà xây mộ  
Rác
Yêu & Nhớ em
Chân dung tình yêu
Người lính Cộng Ḥa
Một nửa muốn tṛn
Trách chi nàng bỏ
Vĩnh biệt thâm t́nh
Trăn trở tháng Tư
Nhớ Má  
Em luôn cười hiền  
Mong ai kia  
Bạn dại cho họ khôn  
Tâm ư t́nh chung  
Tim ai sao mà lạ?  
Quân nhân chưa hề cựu  
Bạn hết thân  
Tháng 5 nhớ Mẹ  
Vu Lan nhớ Mẹ 
Đổi cả thiên thu tiếng Mẹ cười  
Khuyên em  
Mẹ đưa con vào lớp vỡ ḷng 
Hôm nay không ăn mặn  
Cúng Mẹ  
Cởi, cỡi  
Tiên học "Bác", hậu học ngu
Kẻ ở người đi
Tuổi trẻ VN
Cộng
Ai giết dân?  
Ai rách bằng dân! 
Ai cặn bả?  
Biệt Hồ Trường  
Con sẽ đưa Mẹ về...  
Khỉ khô 
Cho trọn vần thơ 
Tri ân Quân Y, Hải Quân... QLVNCH

Trong mơ nhớ mộng 
Cầu siêu 
Trăng đời thay cảnh 
Nghe lính tâm sự 
Ái quốc 
Về thăm mộ chàng 
Thơ để tặng 
Yêu! 
Tha thiết yêu em 
Bài thơ không cần tựa  
Không bi quan

Thương em hoài! 
Tôi sẽ về 
Viết cho Minh Bảo 
Hướng thiện 
Hương trà Blao 
Sao mà thương 
Mưa
Ai đ̣i?  
Bao nhiêu "chân dài"?  
Suối vàng, suối bạc chẳng ham!  
Nghĩa trang buồn 
Cám ơn em chuyển lửa  
Ai nhớ ai  
Người lính Việt Nam Cộng Ḥa 60 năm nh́n lại  
Ước vọng xuân về  
Bệnh này…hết thuôc chữa ! 
Lễ t́nh yêu  
Biết lúc nào yếu  
Nếu ai có hỏi  
Bài thơ không đề tựa
Cảnh tù xưa và em bây giờ !  
Mùng bảy mới bắt đầu xuân  
Xót nàng thơ xuân  
Hương xuân 
New Year of the Pig wishes 
Có một niềm riêng  
Chút ư t́nh xuân  
Ai?  
Hương ngoại  
Tân xuân  
Tết miền Trung  
Hoan hô Tông Tông một phát !  
Khi về với đất  
Hồn thơ lai láng  
Lang băm cộng hành nghề  
Toàn dân cả nước hăy vùng lên !  
Ĺ x́ nhau một chữ "Thương" 
Toàn tướng "tâm tư" táo tợn
Biếm t́nh
Xin trả tôi về
Đạp xe ṿng quanh xóm
Có đảng hay đảng có...  
Ngu !!!  
Rượu hẹn cuối năm  
Anh chưa về, không nghĩa là lỗi hẹn  
Ước ǵ được nấy!  
Mày lại về "Ăn Tết"  
Mai con lớn
Đế kinh điêu tàn
Tâm thư gửi đồng bào hải ngoại
Buổi học cuối cùng
Nhờ ơn bác, đảng phe ta !
Vô thần sao lắm đạo?
Đi cùng
Thơ viết trong mùa lễ  
Chạnh ḷng tôi nhớ bóng quê xưa 
T́nh yệu trả lại trăng sao 
Thiền xuân

Tân niên ở quê nhà