TẢN MẠN NGÀY 30/4


PHẦN 1: 30/4- NGƯỜI VUI VÀ NGƯỜI BUỒN

Trong một cuộc họp với Mao Trạch Đông hồi năm 1970, Lê Duẩn đă cho Mao Trạch Đông biết, Việt Nam đang trường kỳ kháng chiến chống Mỹ là v́ Trung Quốc. Lê Duẩn đă nói, nguyên văn như sau: “Tại sao chúng tôi giữ lập trường bền bỉ chiến đấu cho một cuộc chiến kéo dài, đặc biệt trường kỳ kháng chiến ở miền Nam? Tại sao chúng tôi dám trường kỳ kháng chiến? Chủ yếu là v́ chúng tôi phụ thuộc vào công việc của Mao Chủ tịch... Chúng tôi có thể tiếp tục chiến đấu, đó là v́ Mao Chủ tịch đă nói rằng 700 triệu người Trung Quốc đang ủng hộ nhân dân Việt Nam một cách vững chắc”.

C̣n cuốn sách “MAO: The Unknown Story” - viết: “Có một nơi gần Trung Quốc, nơi đă có người Mỹ, đó là Việt Nam. Cuối năm 1963, miền Nam Việt Nam có khoảng 15,000 cố vấn quân sự Mỹ. Kế hoạch của Mao là tạo t́nh huống làm cho Mỹ phải gởi thêm quân đội vào miền Nam, ngay cả có thể xâm chiếm miền Bắc giáp giới với Trung quốc.”. Và Lê Duẩn sau này cũng đă khẳng định “Ta đánh Miền Nam là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc, cho các nước xă hội chủ nghĩa”.

Trong khi đó, bà Dương Thu Hương, một đảng viên đương thời lúc CSVN chiếm được Miền Nam đă khóc trong ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi bà theo chân đoàn quân chiến thắng vào tiếp thu Sài G̣n, và bà đă “Ngồi xuống vỉa hè ôm mặt khóc như cha chết, v́ nhận ra rằng, kẻ thắng trận là một chế độ man rợ hơn người thua”. Bà đă mô tả lại sau này rằng trong bà lúc đó có “Một cảm giác vô cùng hoang mang và cay đắng v́ cái đẹp phải tan nát, và nền văn minh phải quy hàng”. C̣n ông cựu thủ tướng CSVN – Vơ Văn Kiệt th́ bảo ngày 30/4 là ngày mà “Triệu người vui, cũng có triệu người buồn”.

Đó là thống nhất ư? Không, nước Đức không cần T54 húc đổ dinh tổng thống. Nước Thái không cần đảng cộng sản lănh đạo, nước Sinh chẳng cần sự “đỉnh cao trí tuệ loài người”. Nhưng họ vẫn có tự do và thống nhất, vươn lên mạnh mẽ. Có ǵ mà tự hào với cái gọi là thống nhất khi mấy chục triệu người dân hai miền đă phải ngă xuống v́ chiến tranh phi nghĩa? Dân tộc VN là một, thống nhất không cần phải xua xe tăng và đại pháo tới bắn giết đồng bào Miền Nam. Cái gọi là thống nhất chỉ là bức b́nh phong cho một sự tham quyền, tham của và làm tôi mọi cho chủ nghĩa cộng sản của những Hồ, Đồng, Chinh Giáp. Bằng chứng tuyệt vời về cái gọi là thống nhất chỉ là tṛ lừa bịp đó là Hà nội đă mặc nhiên dâng Hoàng – Trường Sa cho Tàu thông qua sự kiện công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng và vụ ủng hộ Tàu “đánh giúp lấy Hoàng Sa” năm 1974. Bằng chứng đó cho thấy CSVN không hề muốn thống nhất lănh thổ, mà nó chỉ muốn tuân lệnh Mao một cách tuyệt đối mà thôi!

Miền Nam cũng không cần giải phóng bởi Sài G̣n ḥn ngọc Viễn Đông không cần một thứ kim khí thô ráp nào để mài rũa, để bỏ tù, để đánh tư sản, để đầy đi kinh tế mới. Sài G̣n lúc đó đă đi trước Soul, Singapor, Bangkok rất xa th́ Hà Nội có ǵ để mà “giải phóng”? Miền Nam cũng không hề đói nghèo như họ Hồ bôi bác thông qua những lần phát ngôn và thông qua đội ngũ bồi bút. Dân Nam thanh b́nh và yên ấm đă chẳng cần giải phóng bởi họ thừa thuốc, thừa gạo, thừa vải đến mức các con tàu, đoàn xe “giải phóng” phải chạy hết công suất để đem ra Miền Bắc sau ngày CS chiếm được Miền Nam. Cái mà bà Dương Thu Hương đă nói rất hợp lư với thực tế lịch sử và hiện tại. Và một điều minh chứng rơ nhất cho cái gọi “giải phóng Miền Nam” chỉ là một điều láo khoét: Chẳng có một đất nước nào được giải phóng mà dân lại phải t́m đường đi trốn quân giải phóng, và dân nước đó lại luôn nhớ ơn kẻ bị gọi là “đô hộ”…Quan th́ có có thể nói dóc, nhất là quan cộng sản, chứ dân th́ luôn thật và luôn thể hiện thái độ đúng những ǵ lịch sử đă xảy ra…

Khi mà Thống nhất hay giải phóng chỉ là lừa gạt và dối trá th́ cái khái niệm triệu người vui, cũng có triệu người buồn nó cũng có một phần lớn đúng. Cái người vui là người đă thỏa măn được sự ăn cướp, thỏa được sự đổi đời nhờ đánh giết chính người cùng ḍng giống với ḿnh. Đó là đảng CS Hà Nội, là những kẻ nằm vùng tại Miền Nam. Từ đây họ đổi đời, được nhà đất, chức tước, tiền tài, thậm chí cả vợ con của những người thuộc chế độ VNCH. Như vậy, nói cho đúng th́ những kẻ vui là những tên cướp được may mắn thành công nhờ sự phản bội của đồng minh đối với nạn nhân.

C̣n người buồn ư? Nhiều lắm, họ là công chức, binh lính, thân nhân những người thuộc chế độ độ VNCH. Họ là dân Miền Nam từ sau 30/4/1975 sẽ phải sống cúi đầu trong lầm than, khổ đau, mất tự do. Họ là cả người Miền Bắc mất thân nhân v́ cái gọi là “Sinh bắc tử nam”. 90% dân tộc VN là người buồn, chỉ có một lũ ăn cướp trong đó có Vơ Văn Kiệt là kẻ vui. Đó là một kết cục cay đắng của cái gọi là giải phóng, là thống nhất.

Ngày 30/4/1975, ngày mà kẻ vui chỉ là số ít mà người buồn là số đông th́ ngày đó sẽ là ngày của những nỗi xót xa và đọa đầy...

PHẦN 2: NHỮNG NỖI XÓT XA ĐỌA ĐẦY

Trong cuộc phỏng vấn tạp chí George năm 1998, chính tướng William Childs Westmoreland - Tư lệnh Bộ chỉ huy cố vấn quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam- về tướng Vơ Nguyên Giáp của quân đội cộng sản như sau: “Of course, he was a formidable adversary…. By his own admission, by early 1969, I think, he had lost, what, a half million soldiers? He reported this. Now such a disregard for human life may make a formidable adversary, but it does not make a military genius. An American commander losing men like that would hardly have lasted more than a few weeks”. Xin được tạm dịch là: “Dĩ nhiên, ông ta là một đối thủ ghê gớm…. Với sự thừa nhận của chính ông ta, đến đầu năm 1969, tôi nghĩ, ông ta đă mất nửa triệu lính? Ông ta đă báo cáo điều này. Hiện tại, một sự coi thường mạng người như thế có lẽ sẽ tạo nên một đối thủ ghê gớm, nhưng nó không tạo nên một thiên tài quân sự. Với một người chỉ huy người Mỹ mà làm thiệt mạng nhiều binh sĩ th́ vị chỉ huy đó sẽ bị cách chức sau vài tuần lễ”.

Một cuộc chiến tranh phi nghĩa với danh xưng giải phóng và thống nhất bằng vũ lực quân sự mà ở đó, các lănh đạo Hà Nội không coi cuộc sống của dân lành, của thanh niên là ǵ. Các lănh đạo cộng sản coi thường sinh mạng của ḿnh để đổi lấy sự vinh quang cho riêng lănh đạo. Các bà mẹ miền Bắc chỉ biết đến “Các con không về ḿnh mẹ lặng yên” (trích “Đất nước” - Nhạc: Phạm Minh Tuấn - Thơ: Tạ Hữu Yên). Trong khi đó, các con của các mẹ đă bị đẩy vào chiến trường cho cái gọi là sinh bắc tử nam. Một sự xót xa đọa đầy cho người miền bắc.

Những nỗi xót xa và đắng cay của những số phận nghiệt ngă đi t́m cái chết để đem lại giàu sang tột cùng cho con cháu Hồ, Giáp, Duẩn, Chinh, Đồng vv…đă được nhà văn cộng sản hồi chánh Xuân Vũ mô tả chính xác “mạng người lá rụng”. Những đứa con của các bà mẹ Miền Bắc như thể những chiếc lá trên rừng Trường Sơn rơi vào quên lăng, rơi vào mục nát, rơi vào quên lăng để cho bác và đảng vinh quang trong chiến thắng ồn ào…
Inline image

Nhưng ngày 30/4 lại c̣n đem đến những nỗi xót xa hơn cho cả Miền Nam và chung quy là cho cả dân tộc trừ 10% bọn cộng sản, nằm vùng và mafia đỏ. Nhà báo James Taranto đă trích dẫn cuộc điều tra quy mô của nhật báo Orange County Register được phổ biến trong năm 2001 về “học tập cải tạo” tại Việt Nam và đă kết luận rằng: "Ngay sau khi xâm chiếm VNCH, cộng sản đă đưa một triệu quân dân cán chính VNCH vào tù vô thời hạn - dưới cái nguỵ danh học tập cải tạo – trong ít nhất là 150 trại tù được thiết lập trên toàn bộ lănh thổ Việt Nam kể cả những nơi rừng thiêng nước độc với khí hậu khắc nghiệt. Theo Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, đại đa số những người này đă bị giam cầm từ 3 tới 10 năm và có một số người đă bị giam giữ tới 17 năm. Nếu lấy con số trung b́nh là bẩy năm tù cho mỗi người, số năm tù của một triệu người là 7,000,000 năm… Cứ mỗi ba gia đ́nh tại Miền Nam, có một gia đ́nh có người phải đi tù cải tạo. Và trong số một triệu người tù kể trên, đă có 165,000 người chết v́ bị hành hạ, tra tấn, đánh đập, bỏ đói, lao động kiệt sức, chết v́ bệnh không được chữa trị, bị hành quyết… Cho tới nay, hài cốt của 165,000 nạn nhân này vẫn c̣n bị Việt Cộng chôn giấu trong rừng núi, không trả lại cho gia đ́nh họ. Hiện nay chỉ có Việt Cộng mới biết rơ tên tuổi các nạn nhân cùng nơi chôn giấu hài cốt của họ. Đây là tội ác thủ tiêu mất tích người, một tội ác chống loài người đă và đang diễn ra tại Việt Nam suốt 35 năm nay mà thủ phạm là Lê Duẩn…”.

C̣n theo tài liệu của Viện Bảo Tàng Việt Nam tại San Jose ghi nhận số lượng tù cải tạo thực sự đều là tù chính trị như sau: “Năm 1975 QLVNCH có 980.000 quân nhân gồm 1/10 cấp Tá và cấp Tướng tổng cộng 9.600, cấp úy là 80.000, c̣n lại là hạ sỹ quan và binh sĩ . Binh sĩ VNCH bị bắt đi cải tạo sau ngày 30 tháng 4, 1975.AFP/Getty Images – Cấp Tướng tại ngũ đến 30 tháng 4 năm 75 là 112; bị tù cải tạo: 32 vị, 80 tướng lănh di tản và 1 số nhỏ không bị bắt giam. – Đại tá có 600, bị tù 366. – Trung tá có 2.500, bị tù 1.700. – Thiếu tá có 6.500, bị tù 5.500. – Cấp úy có 80.000, bị tù 72.000. Trong số này bao gồm cả nữ quân nhân cũng như thành viên đảng phái và các cấp chính quyền. Đây là con số ghi nhận được từ phía Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Ḥa, không có tài liệu của các trại giam phía cộng sản để đối chiếu; và không có con số chính xác tù cải tạo bị chết trong khi giam cầm”.

Hàng triệu người quân dân cán chính VNCH phải đi tù, vợ con họ bị hăm hiếp, lao động cưỡng bức, đầy đi vùng kinh tế mới. Gia sản, nhà cửa bị cướp mất để làm giàu cho quan to của đảng cộng sản hay đám sâu bọ nằm vùng trước 1975. Hàng trăm ngh́n người đă bỏ mạng trên biển chỉ bởi muốn thoát khỏi nhà tù lớn, muốn có được hai chữ tự do. Cảnh tù đầy sau 1975 đă được miêu tả qua nhiều hồi kư như Tôi Phải Sống, Đại Học Máu, Đáy địa ngục, Tôi đi cải tạo vv…xin đọc một đoạn để thấy sự thật đau ḷng cho người dân Miền Nam sau 30/4/1975: “Đă hơn hai tháng nay, chúng tôi không được ăn miếng thịt nào. Lao động mỗi ngày 8 tiếng, toàn việc nặng. Cơm không có, mỗi ngày lănh hai chiếc bánh ḿ luộc, mỗi cái khoảng 200 gram và một nửa chiếc bánh buổi sáng 50gram, như vậy chúng tôi chỉ được ăn 450 gram chất bột với muối, không có chất béo, chất rau và chất đạm nào! Do đó, ai nấy đều gầy rộc hẳn, da khô khốc. Trên nguyên tắc theo giấy tờ chúng tôi được ăn 18 kí lô chất bột, 300 gram thịt mỗi tháng, nhưng thực tế chúng tôi chỉ được ăn 13 kí 500 chất bột”, (Đáy Địa Ngục -Tạ Tỵ trang 378- 379.).

Lư do ư? Đảng CSVN phải sắt máu để làm khiếp sợ quân dân cán chính VNCH, phải trả thù cho được những người đă bảo vệ miền nam đến cùng. Lê Duẩn đă khẳng định trong sách “Lê Duẩn, Nội dung cơ bản của cách mạng xă hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, xuất bản lần 1 tại trang 482 có viết: "Sức mạnh vô địch của cách mạng Việt Nam được tích luỹ qua gần nửa thế kỷ đấu tranh dưới sự lănh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, kết tinh cả truyền thống chiến đấu và tài thao lược của tổ tiên ta. Bằng ư chí của chúng ta, những kẻ một thời lầm đường lạc lối theo Mỹ - Ngụy đă được lao động cải tạo để trở thành những công dân có ích cho xă hội mới…”. Trong khi đó Đỗ Mười th́ tuyên bố trắng trợn hơn “Giải phóng rồi, nhà cửa của bọn nó là của chúng ta, vợ con của bọn chúng th́ chúng ta dùng”…

Một miền nam tươi đẹp đă ra đi, một miền nam tươi đẹp đă băng hà sau ngày 30/4/1975 để đến nỗi tiêu điều, khổ cực như Huy Đức đă viết là một ví dụ dù Huy Đức chưa viết hết những sự thật kinh hoàng về những kẻ cướp ngày “Tối 10-9-1975, “tin chiến thắng” liên tục được báo về “Đại bản doanh” của Trung ương Cục đóng tại Dinh Độc Lập. Con số bị bắt cho đến khi ấy vẫn tăng lên. Các đoàn đưa ra những con số chi tiết: hàng chục triệu tiền mặt, hàng chục kư vàng, cả “kho” kim cương, hàng vạn mét vải và cả một cơ sở chăn nuôi gồm “7. 000 con gà, thu hoạch 4. 000 trứng mỗi ngày”120 ở Thủ Đức. Một nhà tư sản đang nằm viện bị yêu cầu kiểm tra xem ốm thật hay cáo bệnh, trong khi đó con trai ông ta bị bắt để buộc phải khai ra nơi cất giấu tiền, vàng. Do tin tức bị lọt ra, một số nhà tư sản đă kịp cao chạy xa bay, có người bị bắt khi đang chuẩn bị trốn.”

Thảm kịch của miền nam chưa dừng lại ở cướp ngày mà nó trực tiếp đẩy người dân vào một thảm kịch khác: trên biển đông. Tập tài liệu ấn hành vào năm 2000, mang tựa đề “The State of the World’s Refugees 2000, 50 yearsof Humanitarian Action,” viết về t́nh trạng tị nạn thế giới, để đánh dấu 50 năm hoạt động nhân đạo của Liên Hiệp Quốc, Bà Sadako Ogata, Cao Ủy Trưởng Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, đă nói về ḷng can trường của hàng triệu người tị nạn và lánh nạn trên thế giới đă mất tất cả, ngoại trừ niềm hy vọng, và đă vượt qua biết bao thử thách và chông gai để đi t́m con đường sống. Bà Ogata đă tuyên dương những người này là “Những người sống sót vĩ đại của Thế Kỷ 20”. Cuốn sách cho biết:

“Ngay từ cuối năm 1975, những đợt người tị nạn Việt Nam đă bắt đầu đến lánh nạn tại các nước lân bang. Vào những ngày đó, Thái Lan đă đón nhận 5. 000 người tỵ nạn từ Việt Nam qua, tại Hồng Kông cũng đă có 4. 000 tị nạn, Tân Gia Ba 1, 800 người, và có khoảng 1. 250 người cũng đă đến Phi Luật Tân. Vào tháng 7 năm 1976, khi chế độ Hà Nội loại trừ bộ máy quản chế miền Nam của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam để thực hiện việc thống nhất hai miền, cưỡng chế người dân đi vùng kinh tế mới, và tập trung trên một triệu người miền Nam vào các trại tù cải tạo, những làn sóng di tản bằng đường biển bắt đầu gia tăng. Và đến cuối năm 1977, đă có trên 15. 000 người Việt sang tị nạn tại các nước trong vùng Đông Nam Á. Cho đến năm 1978, khi nhà cầm quyền Cộng Sản phát động chính sách cải tạo tư sản, và tiếp theo đó là việc xua quân xâm chiếm Cam Bốt, và phải đương đầu với cuộc chiến biên giới với Trung Quốc, làn sóng tị nạn bằng đường biển đă tăng lên gấp bốn lần, với đa số người ra đi thuộc khối người Việt gốc Hoa, để sau đó được đưa sang định cư tại các tỉnh phía Nam Trung Quốc.

Vào cuối năm 1978, đă có 62. 000 thuyền nhân người Việt tị nạn tại các nước Đông Nam Á. Riêng trong tháng 6 năm 1979, đă có trên 54. 000 thuyền nhân Việt Nam đến tị nạn tại các nước nói trên. Những làn sóng tị nạn này đă khiến cho các nước trong khối Đông Nam Á, như Mă Lai Á, Thái Lan, Phi Luật Tân, Tân Gia Ba và Nam Dương tuyên bố không nhận thêm người tị nạn từ Việt Nam, khiến cho những đợt thuyền nhân đến sau đă bị xua đuổi cấm không cho lên bờ. Cũng kể từ đó, con số thuyền nhân tử vong trên biển cả cũng đă gia tăng.

Sau những cuộc hành tŕnh hăi hùng lênh đênh trên đại dương, một số thuyền nhân cũng đă đến được bến bờ tạm dụng. Những lớp người này đă đem cho thế giới bên ngoài những mẫu chuyện về người cha, người mẹ, đă phải chia nhau những hạt cơm rơi từ miệng những đứa con; đến chuyện chia nhau từng giọt nước quư hơn vàng được vắt ra từmiếng vải thấm mưa, để đánh lừa những cơn đói khát triền miên. Hay là những chuyện thương tâm về người chết đă cứu được người sống với thịt máu của chính ḿnh. Hoặc nữa là những chuyện nói nhỏ, kể về những trường hợp phải đương đầu với hải tặc. Ngoài những mối đe dọa do sự đầy đọa của con người đối với con người, những thuyền nhân này c̣n phải đương đầu với những cơn thịnh nộ của thiên nhiên. Những cơn phong ba băo táp đă khiến cho không biết bao nhiêu thuyền nhân làm mồi cho biển cả. Không ai dám phỏng đoán với mỗi người có cơ may đặt chân lên bến bờ tự do, đă có bao nhiêu người hy sinh trên đại dương.

Cuối cùng, làn sóng người tị nạn Việt Nam bằng đường biển đă viết lê thiên bi sử của thuyền nhân, và những câu chuyện hăi hùng của các cuộc vượt biển của người tị nạn Việt Nam đă đánh động được lương tâm thế giới. Vào tháng Ba 1979, chương tŕnh Ra Đi Có Trật Tự ra đời để cố gắng ngăn chặn những làn sóng vượt biển. Ngoài ra, cũng vào thời gian này, các chương tŕnh cứu người vượt biển đă được một số tổ chức thiện nguyện quốc tế phát động hai chiếc tầu cứu vớt thuyền nhân ngoài biển là Anamur do một tổ chức từ thiện Đức Quốc vận động vào năm 1979 L’Ile deLumiere của tổ chức từ thiện Pháp Medecins du Monde điều hành vào năm 1980 đă cứu mạng được nhiều thuyền nhân Việt Nam lênh đênh ngoài biển cả trong khoảng thời gian từ 1979 cho đến 1990.”

…Tất cả sự đau thương thống khổ của người dân hai miền nam bắc chỉ đổi lấy sự hào nhoáng giả tạo, sự chiến thắng viển vông và sự giàu có cho chỉ tầng lớp lănh đạo đảng, nằm vùng và cơ hội. C̣n toàn thể dân hai miền th́ đau thương không xiết. Những nỗi đau thương cứ đầy theo năm tháng măi không thể xóa nḥa bởi từ ngày 30/4 thống hận đó, lịch sử toàn bộ đất nước VN lại bước vào một kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên của đau khổ, cùm kẹp và đầy rẫy trái ngang…Nguyên nhân th́ có nhiều, nhưng không thể nào quên những kẻ phản bội miền nam.

Đặng Chí Hùng
24/04/2022