"Làng tôi có cây đa cao ngất từng xanh
Có sông sâu lờ lững vờn quanh
Êm xuôi về Nam …"


Con bé hát, tiếng trẻ hát vụng về, ngây thơ nghe thật dễ thương. Mẹ nó nghe, hát theo con cho nó vui. Con bé đưa mấy chữ "về Nam" cuối câu vút cao lên, nên khi sang câu kế tiếp th́ mẹ nó hết theo nổi. Trẻ con có hơi, cứ thế hát tiếp:

"Làng tôi bao mái tranh san sát kề nhau
Bóng tre ru bên mấy hàng cau
Đồng quê mơ màng!"

Bà mẹ nuốt chữ, ráng ư ứ thành âm để theo con cho đến hết hai câu kế rồi ôm con cuời thật hạnh phúc.

- Con hát hay quá!

Thằng Hai thấy vui lây, tấm tắc khen con. Khen rất thiệt t́nh. Tiếng thẻ thơ, nhất là con ḿnh, cho dù có hát vụng về lạc giọng cứ nghe sao hay chi lạ.

Nó cười đó, nhưng nh́n vợ con mà nghe ḿnh đang rưng rưng nước mắt. Tội nghiệp, vợ nó có biết hát ḥ chi đâu. Bà ấy chỉ thích bài hát từ thời c̣n nhỏ, cái thời c̣n được sống ở Việt Nam. Bây giờ nhớ lơm bơm giọng điệu, dạy cho con hát tiếng Việt cho vui, cho ấm nhà, cho ḿnh đỡ nhớ quê hương. Con bé hát theo, riết rồi quen. Rỗi răi con rủ mẹ hay mẹ rủ con, ê a cùng nhau hát.

Hai mẹ con chỉ hát được có bốn câu, cứ thế hát đi hát lại. Nhưng có sao đâu, nghe hoài nhưng thằng Hai vẫn chưa thấy chán. Chừng như lần nào cũng thế, bốn câu hát đă hết, hai vợ chồng nó ngó nhau lẳng lặng một lúc. Cái ǵ đó như là bâng khuâng xao xuyến làm sao ấy. Âm hưởng của giai điệu và lời nhạc cứ bàng bàng mênh mang trong ḷng người ly hương.

Th́ cũng phải!

Bản nhạc Làng Tôi của Chung Quân đă đoạt giải Kim Chung, được chọn làm nhạc nền cho phim Kiếp Hoa, thắng các sáng tác của đàn anh và sư phụ, khi ông nhạc sĩ này mới mười sáu tuổi th́ phải biết!

Hay thật, thằng Hai ngẫm nghĩ.

Cả nửa thế kỷ rồi chứ ít oi ǵ, bài hát Làng Tôi bây giờ càng thấm thía, nát ḷng người tha hương hơn.

Thằng Hai và vợ nó đều lớn lên ở thành thị. Hai đứa không biết nhiều về thôn quê, không có được những kỷ niệm sống và lớn lên trong thôn làng. Nó may mắn hơn, được năm bảy lần chi đó, theo cha về vườn để thăm viếng mộ ông bà. Nhưng mấy chữ "làng tôi" giờ sao có cái ǵ đó thật gần gũi, hay hay, quyến luyến trong ḷng hai vợ chồng nó lắm!

Thầy Chín dắt chiếc xe đạp ra ngoài rồi cho cho nó đứng dựa vào lan can trước nhà. Lấy ống bơm gắn trên sườn xe ra, tay vặn một đầu ṿi bơm vào bánh rồi xoắn ống bơm xe cho dính vào đầu ṿi bên trên, thầy quay lại nh́n thằng con ngồi kế bên, cười cười:

- Hai! con có muốn đi về vườn với ba không?

- Dạ đi, ba!

- Con vô cho mẹ hay rồi thay đồ đi chơi với ba.

Cuối tháng Tám rồi, sắp tựu trường, mấy tháng nay chưa được đi đâu xa chơi, hôm nay thầy Chín chở đi về vườn chơi th́ c̣n ǵ bằng. Thằng Hai vui quá, miệng "Dạ", chân vụt chạy vào trong nhà oang oang cho mẹ nó biết. Nó thay lẹ cái quần "sọt" đen và áo trắng sạch rồi chạy ra, đứng chờ thầy Chín bơm bánh xe cho xong.

Hè nào, nó cũng được theo cha về vườn. Thầy Chín nghỉ hè, thằng Hai cũng nghỉ hè, c̣n ǵ bằng được theo cha đi đây đi đó chơi.

Hồi trước, khi trong vườn c̣n yên giặc, mùa nghỉ hè, mấy anh em nó theo mẹ về vài ba hôm mới trở lên tỉnh. Về sau, đêm xuống th́ làng thường bị cái đám quân mà bà con trong làng hay gọi xách mé là đồ quỷ quái, kéo về quấy phá yên b́nh, lùng giết người rất là kinh hoàng. Cứ xem, bà Năm ở Làng Bưởi, Hà Nội, chủ hiệu buôn Cát Hanh Long ở Hải Pḥng th́ đủ biết cái dă tâm và man rợ của bọn chúng. Bà Cát Hanh Long đă được chúng nó tâng bốc, đội cho lên đến chín tầng mây; bà được phong tặng là "Mẹ chiến sĩ", v́ có công đóng góp tài sản cho chúng nó và nuôi ăn giúp đỡ cho những người sau này thành những tên quan trọng như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Hoàng Hữu Nhân, Vơ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Tùng, Vũ Quốc Uy, Hoàng Thế Thiện, Lê Thanh Nghị... Bà c̣n góp cả hai đứa con trai là Nguyễn Cát và Nguyễn Hanh vào đội quân của chúng nó và chính bà là Hội Trưởng Hội Liên Hiệp phụ nữ Việt Nam của tỉnh Thái Nguyên. Rốt cuộc, cũng chính bà Năm, tức bà Cát Hanh Long, lại trở thành nạn nhân đầu tiên bị xử tử làm gương theo chính sách vô cùng man rợ “Trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ” của chúng nó.

Chính sách man rợ!
Bọn man rợ giết người càng man rợ hơn!

Qua hồi kư Đèn cù, Trần Đĩnh có ghi lại cuộc hành quyết bà Năm - Cát Hanh Long, cũng là bà "mẹ chiến sĩ" của chúng nó, qua lời kể của Tiêu Lang, phóng viên báo Cứu Quốc trong đội quân cải cách như sau: "Khi du kích đến đưa bà ta đi, bà ta đă cảm thấy có ǵ nên cứ lạy van "các anh làm ǵ th́ bảo em trước để em c̣n tụng kinh." Du kích quát: "đưa đi chỗ giam khác thôi, im!." Bà ta vừa quay người th́ mấy loạt tiểu liên nổ ngay sát lưng. Ḿnh được đội phân công ra Chùa Hang mua áo quan, chỉ thị chỉ mua áo tồi nhất. Và không được lộ là mua chôn địa chủ. Sợ như thế sẽ đề cao uy thế uy lực địa chủ mà. Khổ tớ, đi mua cứ bị nhà hàng thắc mắc chưa thấy ai đi mua áo cho người nhà mà cứ đ̣i cái rẻ tiền nhất. Mua áo quan được th́ không cho bà ta vào lọt. Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô: "Chết c̣n ngoan cố này, ngoan cố nổi với các ông nông dân không này?" Nghe xương kêu răng rắc mà tớ không dám chạy, sợ bị quy là thương địa chủ. Cuối cùng bà ta cũng vào lọt, nằm vẹo vọ như con rối gẫy vậy...

Thầy Chín thừa biết thân phận, bị đảng kết tội “trí”, tức là kẻ thù số một, được xếp tận trên cùng, th́ chắc chắn phải bị "đào tận gốc, trốc tận rễ”. Chết là cái chắc! Cho nên, mấy năm sau này, thầy Chín chỉ c̣n ráng đạp xe về thăm viếng mộ cha mẹ chốc lát rồi quay về tỉnh ngay trong ngày .

Thằng Hai khoái được ngồi trên cái yên xe phía sau cho thầy Chín đạp chở đi đây đó lắm. Chuyến đi về vườn thăm mộ xa xôi, được thầy Chín chở đi chơi lâu, nó chịu lắm. Qua đoạn đường tráng nhựa êm ả, thầy Chín quanh xe vào chợ.

Thầy Chín dừng xe:

- Xuống xe đi con.

Thằng Hai nhớ hết các thứ tự của chuyến đi và chờ cho đến chặng nghỉ ở chợ này từ năy giờ. Nó nhanh nhẹn tuột xuống, cho ba nó dẩn xe vào quán chú Tài. Thầy Chín ngồi nghỉ chân và thằng Hai được ly nước mía mát lạnh, thơm lừng hương mía tươi, ngọt lịm cả người.

Lúc rời quán, nó nghe chú Tài nói nhỏ với thầy Chín:

- Thầy nhớ ḍm chừng, hỏi thăm bà con dọc đường nghen thầy,... tui nghe nói hôm qua nay trong trỏng động lắm đó thầy!

Từ cái chợ nhỏ này, hai cha con theo con đường ṃn dẫn dài về thôn nhà. Hôm nào, không may gặp lúc trời đổ mưa ào xuống, đất trên đường bị ướt nước nhảo ra thành bùn đặc quánh. Bùn theo bánh cuốn lên làm kẹt cứng bánh xe, chốc chốc phải cạy bùn; lại thêm khi dắt chiếc xe qua mấy cây cầu bằng thân cây tṛn, nó trơn trợt, gian nan lắm. Những ngày trời nắng như hôm nay, đường khô ráo, đạp xe chạy được. Con đường ṃn duy nhất, uốn khúc dọc sát theo bờ sông. Mặt đường lồi lơm nối với gập ghềnh. Nhiều đoạn eo hẹp, chỗ ít nhà nên ít người qua lại, cỏ dại mọc lan tràn um tùm, chỉ vừa hai bàn chân người bước đi.

Chạy được một lúc, th́ bổng dưng thấy ghe xuồng chống cột đậu san sát nhau, đầy bên bờ sông. Người ta chở theo lủ khủ các thứ đồ đạc, vật dụng trong nhà, có cả chó, mèo, gia cầm. Mấy con gà, vịt và cả heo, quen sống thăng bằng trên bờ, bây giờ bị cột chen chúc trên ghe xuồng, lúng túng lao chao, kêu toáng lên khi sóng đùa vào nghiêng lắc ghe xuồng.

- Thầy Chín!

Mới dừng xe, định bước đến gần bờ sông để thăm hỏi t́nh h́nh th́ thầy nghe có người gọi ḿnh. Tiếng gọi lớn mừng rỡ từ bên dưới sông vọng lên.

Thầy Chín chống chân giữ chiếc xe đạp, ngó t́m xem ai gọi ḿnh.

- Thầy Chín ơi! tui đây nè!

Người đàn ông vẫy tay gọi thêm. Thêm mấy người quen trong làng nghe thấy, cũng vui mừng vẫy tay gọi chào thầy Chín.

- Anh Một đó hả?... Chào hết bà con ḿnh!

- Th́ Một đây!... chờ tui lội lên nói chuyện chút đă!

Thầy Chín trông vui lắm khi nhận ra nhiều người quen biết, gọi tên thăm hỏi qua lại, rồi quay ra sau bảo con:

- Con xuống xe, chờ ba nói chuyện với bác Một một chút nghen.

Nước ṛng cạn, ghe cột xa bên dưới sông. Người đàn ông lom khom bước chuyền qua mấy chiếc ghe, chiếc xuồng kế bên để lần đi vào gần bờ hơn, rồi hối hả chạy trên thân cây dừa thả nằm dài từ bờ xuống nước làm cây cầu.

Thằng Hai theo thầy Chín bước tới đầu cây cầu dừa để đón bác Một.

- Anh Một khoẻ hả?

- Th́ cũng "dậy", qua ngày, thầy ơi!... Bộ thầy tính d́a thăm mộ ông bà đó hả?

- Dà, th́ cũng cả năm rồi anh,... Hai, thưa bác Một đi con!

- Dạ chào bác Một!

- Ờ,... con trai coi lớn đại rồi!... bác nói chuyện với ba con chút nghen!

Bác Một cười vui vẻ đáp lời thằng Hai rồi quay sang thầy Chín:

- May mà tui gặp thầy ở đây!...

Thầy Chín lo lắng:

- Sao anh?!

- Thầy đừng có d́a trỏng mần chi!... Khúc dưới, tụi quỷ ôn nó đào hố, chông, ḿn, lựu đạn tùm lum á!

- Vậy à! cám ơn anh Một, mà anh với bà con ḿnh chống chèo đi đâu đây? sao giống chạy giặc vậy anh?

- Th́ chạy giặc chứ c̣n ǵ nửa, thầy! Th́ từ chiều hôm qua lận... tui với bà con ḿnh trốn ra ngoài này, gần chợ, gần đồn lính ḿnh cho yên thân. Tụi quỷ quái nó tràn lang đầy làng rồi thầy Chín ơi!... Thầy chạy d́a ngoài ngoải đi!

Thấy Chín đứng tần ngần, buồn hiu. Bác Một vỗ vai thầy Chín, thở dài:

- Thôi, tui xuống ghe coi chừng nồi cháo đang nấu,... d́a đi thầy!

Thầy Chín gật đầu:

- Cám ơn anh Một... cho tôi gởi lời thăm chào hết bà con ḿnh dưới bến nghen anh Một!

Bác Một cúi xuống ân cần xoa đầu thằng Hai, rồi chạy xuống cây cầu dừa.

Thằng Hai đă nghe chuyện, nó không hiểu hết ngọn ngành, nhưng biết là lần này chỉ đi được đến đây thôi.

Hướng xuống bờ sông, thầy Chín quơ quơ tay chào chung bà con bên dưới, rồi quay đầu chiếc xe đạp về ngoài chợ.

Thằng Hai leo lên yên xe ngồi. Hồi đi vui bao nhiêu, bây giờ quay về buồn bấy nhiêu. Buồn c̣n hơn thế!

Thầy Chín yên lặng đạp xe. Nó cũng không c̣n thấy ǵ vui. Thấy thầy Chín đạp xe về trông buồn quá, nó không dám nói hay hỏi han chi thêm. Nó nghe bác Một nói tụi quỷ quái giờ hiện ra cả ban ngày. Nó nghĩ, vậy th́ ngày cũng như là đêm trong thôn làng rồi c̣n ǵ!

Cũng từ mùa nghỉ hè năm ấy, thầy Chín không c̣n đạp xe chở nó về vườn chơi được nửa!

"Quê tôi ch́m chân trời mờ sương
Quê tôi là bao nguồn yêu thương
Quê tôi là bao nhớ nhung se buồn
Là bao vấn vương tâm hồn người bốn phương "


Cuối tháng Tám, lá phong xanh trên cây bắt đầu lưa thưa chuyển sang sắc màu vàng, màu đỏ. Nơi đây, mùa Thu sắp trở về!

Không phải mùa Thu nào cũng nên thơ, thơ mộng!

Bảy mươi một năm rồi, từ khi cộng sản cướp chính quyền ở miền Bắc, mùa Thu về buồn se thắt trong ḷng người ly hương, lánh nạn cộng sản.

Trời Vancouver thấy như nắng ấm đó, nhưng gió se sẻ mát lạnh, làm hơi ấm và hương vị thơm đắng của ly cà phê buổi sáng càng thêm thú vị. Bên kia bờ Thái B́nh Dương, có quê hương Việt Nam, có thôn làng của thầy Chín. Quê hương nó bây giờ đang ch́m trong đêm đen. Đêm vẫn đen giữa ban ngày, khi đất nước ḿnh c̣n trong gông cùm của loài cộng sản.

Từ bên quán cà phê nh́n sang , thằng Hai thấy năm bảy thanh niên nam nữ tuổi trẻ cùng các tà áo dài Việt Nam lên xuống từ những chiếc xe mang bảng số màu đỏ của Lănh sự quán việt cộng. Chỉ cách nhau chừng ít chục bước ngắn ngủi, nh́n rơ được mặt người quen và mặt người lạ. Thế nhưng, thằng Hai thấy họ sao xa lạ quá! Họ lúng túng quay mặt, ánh mắt tránh né những người đồng hương quen biết trước đây. Họ ngượng ngập, hổ thẹn như kẻ lén lút làm chuyện tồi bại, trái với lương tâm, bất chợt bị người ta bắt gặp .

Trông họ thật tội nghiệp!

Thế đấy, khi sự hiện diện của lá cờ cộng sản Việt Nam nơi các quốc gia tự do, càng ngày càng làm người dân địa phương oán ghét khinh bỉ, kể cả những người phục vụ cho chúng cũng tự thấy xấu hổ, th́ rơ ràng là cái đảng cộng sản cùng chế độ bạo quyền của chúng đang bị đào thải trong cộng đồng nhân loại văn minh, tiến bộ trên thế giới.

Khi tội bán nước hại dân của đảng cộng sản đă bị vạch trần trong các thánh lễ cầu nguyện cho Công Lư và Ḥa B́nh ngay tại Thái Hà, Hà Nội; khi lời hát Việt Nam Tôi Đâu và Anh là Ai đă làm cộng sản khiếp sợ bắt giam nhạc sĩ Việt Khang; khi "Trả Lại Cho Dân", "Dậy Mà Đi" được đồng bào trong nước hát vang trong các cuộc biểu t́nh chống bạo quyền bán nước hại dân; khi những tuổi trẻ trong nước như Nguyễn Viết Dũng kiêu hănh khoác bộ quân phục của người lính Việt Nam Cộng Hoà, như Hoàng Thị Hồng Thái cùng các bạn trẻ đă vươn cao lá cờ vàng tự do... th́ ngày tàn của đảng cộng sản chắc hẳn đă gần kề.

Công Lư và Ḥa B́nh sẽ trở về trên quê hương Việt Nam!

Thằng Hai nôn nao mơ một ngày về. Ngày về thăm lại "làng tôi" với tro tàn của thầy Chín.

Bùi Đức Tính
 

 

 


VĂN CHƯƠNG

Bài vở cũ 2015
Bài vở cũ 2014
Bài vở cũ 2013 
Bài vở cũ 2012

Truyện Ngắn

Hồi ức - Một thời chinh chiến 
No Easy Day - Ngày Vất Vả

Những bài viết của Bất Khuất


Giấc mộng kinh hoàng  
Hồi Kư của vợ người tù “cải tạo”  
Viễn thám
Trong bóng hoàng hôn
Tâm sự cùng Nữ Sĩ Dư Thị Diễm Buồn  
Phản bội Đồng Minh hay thay đổi chiến lược chống CS
Cái áo Jacket Không Quân
Ánh sáng cuối đường hầm
Sức mạnh của đồng tiền  
Di chúc tuyệt mệnh  
Rồi tôi sẽ hạnh phúc  
Anh không chết đâu anh  
V́ sao tôi là Nữ Quân Nhân?  
Nồi chè của Ông Tướng  
Người cha trăm tuổi  
Hai ngày gác ở Nghĩa Trang Quân Đội
Dự lễ Phật Đản  
Từ mặt đường dậy sóng ...  
Viết cho một người lính  
Mặt trận Tân Cảnh, Kontum 1972 
Nghĩa Quân 
Chia sẻ với các em của chị
Có những chuyến tàu
Những mảnh hồn phiêu bạt ...
Cho nhau cuộc đời  
Cha và con với biển và cá  
Kẹt cứng gọng kềm

Người tù binh hồi chánh bên bờ sông Ba  
Cái bóng của vị thầy tu  
Cái nón sắt của người lính VNCH  
Trăm ngh́n nhánh khổ  
Sài-G̣n miền đất địa linh nhân kiệt
Triết lư nhân sinh - Luận về mộng mơ qua Văn chương và Triết học  
Tấm thẻ bài  
Tung cánh chim t́m về tổ ấm  
T́nh nghĩa Vợ, Chồng khi kẻ mất, người c̣n đời sống sẽ ra sao?  
Viết cho Nguyễn Viết Dũng  
Việt cộng - Việt cộng
Tháng Ba chôn súng  
Băi biển Non Nước: Một kết thúc tức tưởi, oan nghiệt 
Tiểu Đoàn 9 TQLC - Trận chiến sau cùng  
Một lần chào cuối cùng của đời quân ngũ !  
Mất Đà Nẵng  
Sự quan tâm của vị Tướng  
Saigon xưa ...cái thời xé tiền để .. thối lại !  
Giọt nước mắt của lính
BTL/HQ/V4 DH – Di tản với 3000 đồng bào  
Người lính Việt Nam Cộng Ḥa sau 30 tháng Tư  
Bàn thờ hai mặt  
Ngôi nhà thờ cổ bên ḍng sông Saigon 
Ṿng tṛn nhân quả  
Bạn tôi người lính trẻ
Nhớ kỉ niệm .…
Một lần mất mát  
Chuyện buồn người vợ tù  
Nhẩy Dù tử chiến tại mặt trận Quảng Trị 
Ngô Quang Trưởng - Cổ kim như danh tướng 
Khai bút đầu Xuân Bính Thân 2016 - Sát cộng nô hịch

Về thăm quân trường cũ 
Xuân đă tàn chưa?

Tưởng như … Mùa xuân không c̣n nữa 
Táo quân về trời 
Đi chợ... Tri thiên mệnh  
Điều bố không dặn lại

Một đời lận đận chiến tranh  
Gió mùa xuân  
Viên đại bác cuối cùng nơi phà Cát Lái 
Người vợ là một vĩ nhân

Chưa tu đă thành Phật  
Tướng Ngô Quang Trưởng - Cô kim như danh tướng

Bắc Kỳ 9 nút - Bắc Kỳ 2 nút