Nằm đêm nghe tiếng rao hàng

Tùy bút / Tản mạn: Hà Việt Hùng

Cách đây vài năm, gia đ́nh tôi về Sàig̣n sau những năm xa cách. Đêm đầu, tôi không sao ngủ được v́ lạ nhà, v́ nóng, v́ thằng cháu nhỏ 7-8 tuổi, con cô em út, nằm xoay người đạp vào mặt, và v́…lung tung chuyện của người già.

Tôi có thói quen đi ngủ vào lúc 10 giờ đêm, nhưng đêm nào cũng cứ trằn trọc, suy nghĩ chuyện đời đến 12 đêm, 1 giờ sáng hay hơn, mới ngủ được. Cũng may từ ngày “đổi mới”, nhà không có muỗi như trước đây. Không phải ngủ trong mùng ngột ngạt là thích rồi. C̣n chuyện ngủ trong không khí oi nồng th́ tôi xin chịu, không biết làm sao. Biết chúng tôi ở nuớc ngoài về, chồng cô em đă mở máy lạnh, nhưng chúng tôi vẫn cảm thấy nóng, chắc phải 1-2 tháng nữa mới quen lại. Tôi không dám nói, v́ sợ là…“ở nước ngoài về làm phách”.

Đêm nay, cũng như bao đêm khác, tôi nằm măi không sao ngủ đuợc. Chợt có tiếng rao hàng từ đàng xa:

“Ai ăn chè đậu đen… nước dừa…đường cát không?...”

Tiếng rao quen thuộc, khắc khoải của người phụ nữ ở măi xa, rơi vào ḷng tôi, rồi mất hút ở đoạn cuối. Tiếng “không” cuối cùng ngân dài ra, vừa có vẻ mệt mỏi, vừa có vẻ chịu đựng. Ai c̣n ăn chè vào giờ này? Tôi tự hỏi, nhưng không sao t́m được câu trả lời. Có lẽ đây là văn hoá...gồng gánh bán bưng và ăn uống đặc thù của Sàig̣n. Có thể cảnh buôn bán thế này chỉ có ở VN.

Vế thứ hai của lời rao hàng “nước dừa”, theo tôi, mất chữ “cốt” nhưng không sao, v́ ai cũng hiểu. “Chè đậu đen” là phải nấu với “nước cốt dừa”, chứ ai lại nấu với “nước dừa”.

Tiếng “không” cuối cùng được kéo dài ra, ngân nga như không muốn dứt, nghe xa xôi như tiếng “hôn”.
-“Ai ăn chè đậu đen… nước dừa…đường cát hôn?...”

Giờ này, có thể chồng bà và các con đă đi ngủ, đến mấy giờ mới bán xong gánh chè này, và tiền lời là bao nhiêu, có nuôi nổi một gia đ́nh đông con trong một ngày, với bao nhiêu thứ tiền cần phải chi tiêu ra?

Thành phố này thay đổi khá nhiều so với ngày gia đ́nh tôi đi. Nhà cửa mọc lên như nấm, cái cao cái thấp, cái ra cái vào, cái lớn cái nhỏ, và cái xanh cái đỏ trông rất XHCN. Đặc biệt phần lớn buôn bán tại nhà, bảng hiệu và bảng quảng cáo xanh đỏ ḷe loẹt, nh́n đến nhức mắt. Nhiều đường đă thay tên, đổi họ, không nhận ra.

Về để thấy đất nước của ḿnh người thường dân làm chủ, rác rến đầy đường, bụi bẩn khắp nơi. Hôm qua, cậu em lấy xe van của nhà, chở chúng tôi từ sân bay TSN về, tôi ngồi ghế sau. Khi xe đang chạy trên đường Đồng Khởi cũ, tôi chợt thấy ông tài xế tuơng đối đứng tuổi, quay kiếng xe xuống (lúc đó bên ngoài trời nóng, xe mở máy lạnh), thản nhiên bóp và vứt chai nước nhựa đă uống cạn xuống mặt đường, rồi lại tỉnh bơ kéo kiếng xe lên. Tôi để ư thấy ông tài xế đưa mắt nh́n tôi, có vẻ thách thức là đằng khác. Hai vợ chồng cô em tôi vẫn “tỉnh bơ” như… chuyện thường ngày ở huyện. Mọi chuyện đều qúa quen thuộc.

Tôi thấy nhột nhạt, khó chịu, đưa mắt nh́n ông tài xế, nhưng ông ta chẳng nói ǵ, cứ tiếp tục lái. Đựng đông người và xe cộ, tiếng c̣i xe ầm ĩ không nhường nhịn nhau vang lên, khói bay mù mịt cả mắt và mũi. Có những chiếc xe gắn máy hai bánh lạng lách, bất kể nguy hiểm. Đó là những chuyện b́nh thường. Sàig̣n là thế. Chen chúc nhau từng tấc đất một. Tự nhiên tôi nghĩ đến đám ḍi lúc nhúc. Chúng đang lúc nhúc bên nhau, nhưng không thoát khỏi cái ṿng luẩn quẩn.

“Ai ăn chè đậu đen… nước dừa…đường cát không?...”

Đúng y như tiếng rao trước, khắc khoải, chịu đựng, mượt mà, như tập nhuần nhuyễn từ trước. Tiếng rao vang trong đêm vắng lặng, buồn buồn.

Tiếng gơ “lóc cóc…lóc cóc…” nổi lên. Tiếng gơ thay cho lời rao. Có thể một người đi trước, gơ hai thanh tre ngắn vào nhau, làm phát ra những âm thanh ấm áp. Ai muốn mua, cứ gọi người này vào dặn ḍ. Chỉ 5 phút sau là có một (những) tô ḿ nóng hổi, bốc khói, bay mùi thơm ngào ngạt. Có người thích “ḿ gơ” hơn ḿ bán trong các tiệm ăn sang trọng, kiểu cách.

Người dân Ság̣n được “giải phóng” bao nhiêu năm nay, nhưng vẫn thấy mắt ḿnh mỗi ngày một “sáng” ra. Sống dưới chế độ “cũ” như thế nào, và dưới chế độ “mới” như thế nào, không cần phải ai nói.

Sàig̣n c̣n quá nhiều chênh lệch giữa giầu và nghèo. Người giầu th́ quá giầu, không biết cất tiền ở đâu; đại đa số người nghèo th́ quá nghèo, chạy ăn từng bữa một, cật lực mưu sinh. Số đại gia chính đáng đếm chỉ trên đầu ngón tay; v́ có nhiều tiền, họ làm những điều lố bịch, gian xảo, nhiều khi làm băng hoại đạo lư, xă hội, chơi ngông cho “thiên hạ sợ chơi”. Phần lớn các quan CS tham nhũng, hối lộ, phe phái, mua quan bán chức, thanh toan lẫn nhau v́ tranh giành quyền lợi càng ngày càng lộ liễu.
ĐCS vẫn c̣n loay hoay vớ́ CNCS mà chưa đưa được đất nước tiến lên CNXH.
Khi c̣n sống, HCM vẫn thường nói: “Muốn xây dựng CNXH, trước hết cần phải có con người XHCN”. Câu nói mới nghe qua, có cái ǵ giống câu văn vần vô nghiă, con nít nhà quê vẫn thựng hát:

“Ông Nỉnh, ông Ninh
Ông ra đầu đ́nh
Ông gặp ông Nang
Ông Nảng, ông Nang
Ông ra đầu làng
Ông gặp ông Ninh…”

Theo HCM, CNXH là thể chế tương lai, đó là một nhiệm vụ quan trọng, hàng đầu đối với cơ sở vật chất của XHCN. Giáo dục con em những truyền thống dân tộc, truyền thống cách mạng của Đảng, đạo đức cách mạng, sống và làm việc theo pháp luật. Không ngừng nâng cao tŕnh độ văn hoá, nắm bắt những tri thức khoa học hiện đại, làm cho giới trẻ biết kết hợp giữa yêu n¬ước và yêu chế độ XHCN một cách tích cực, thực hiện thắng lợi việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN... (HCM-Tạp Chí Xây Dựng Đảng 25.6.2011).

Ta thấy, lời nói của HCM hoàn toàn lư thuyết, sai lệch ngay từ đầu. Sống và làm việc theo pháp luật XHCN, nên người dân bị cạn kịệt đến xương tủy. Đảng CSVN chỉ sản xuất được những phần tử thời cơ, tham nhũng, ăn cắp, chỉ làm nát tan xă hội mà thôi. Trong xă hội đầy rẫy những bất công, những cái hố to giữa giầu và nghèo. Người giầu th́ giầu quá, người nghèo th́ nghèo quá, không bao giờ xă hội có công bằng, b́nh đẳng.

Ngày nay chủ nghĩa Mác-Lênin đă “xưa như trái đất”, không c̣n áp dụng được nữa, con em chúng ta không thích học những cái ǵ liên quan đến truyền thống mà chỉ muốn làm trái lại. Nhiều người cho rằng nền giáo dục ở VN thối nát, băng hoại trầm trọng. Ta thấy nhan nhản những đám học sinh “khăn quàng đỏ” chửi lộn tục tĩu, đánh nhau tàn nhẫn, và cố phô trương sức mạnh XHCN với nhau…Các em đều c̣n rất nhỏ, luôn luôn học tập “theo gương đạo đức của Bác Hồ”. Nhà trường treo bảng hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” cho nó đẹp, thực ra không có một chương tŕnh, giải pháp nào cả. Sách giáo khoa chỉ nói về những điều ngụy tạo, tuyên truyền, lừa bịp như “anh hùng” Lê Văn Tám.

Sau năm 1975, càng ngày càng có nhiều người từ các miền khác vào miền Nam sinh sống. hay nói một cách khác, dù bị Mỹ-Ngụy “ḱm kẹp ”, miền Nam vẫn “dễ sống hơn”. Có nhiều người cho rằng người miền Nam hiền hoà hơn, vui tính hơn và xuề x̣a hơn người miền Bắc.

ĐCS cố gắng biến miền Nam thành miền Bắc càng sớm càng tót. Chúng dùng mọi cách “đồng hoá” người miền Nam với người miền Bắc.

Lấy chiêu bài đánh “tư sản mại bản”, CS ra lệnh, cứ 500 đồng của chế đô cũ VNCH đổi lấy 1 đồng XHCN. Mỗi nhà chỉ được quyền đổi tối đa 200 đồng VNCH mà thôi. Sau 2-3 lần đổi tiền như thế, miền Nam sẽ kiệt quệ, chỉ c̣n da với xương thôi. Về kinh tế, ít ra cũng “ngang” với miền Bắc trong “những năm đánh Mỹ cứu nước”. Đây mới thực sự là CS muốn miền Nam trở lại “thời kỳ đồ đá”. Muốn cho miền Nam “bằng” với miền Bắc, không ǵ bằng cứ “đổi tiền”. Không biết “kinh tế gia đại tài” nào đă nghĩ ra cách “đổi tiền” hay ho, đáng ghi vào sử sách như thế?.

Vào thời bao cấp (sinh hoạt kinh tế cả nước, tức là trước thời kỳ đổi mới từ 1976 đến 1986, trên toàn quốc), chính mắt tôi đă thấy mẹ tôi đứng xếp hàng cả buổi trưa chỉ để mua nửa kư đường, mấy ổ bánh ḿ nhỏ lạnh ngắt, thay thế cho gạo…Có khi phải mua vào ban đêm. Khi đó, mới thấy tờ hộ khẩu (tờ khai gia đ́nh) quan trọng và cần thiết như thế nào.

Sau 1986 đến nền kinh tế thị trường, (định hướng xă hội chủ nghĩa) là một nền kinh tế theo đó người bán và người mua ảnh hưởng lẫn nhau theo luật cung cầu. Nền kinh té này được lập và phát huy từ 1990. Khuyết điểm của nền kinh tế này là các cán bộ tham nhũng ngày càng tinh vi hơn,; làm thất thoát công qũy, vật lực; lăng phí, thay v́ cho sản xuất.

“Bánh gị…”

Tiếng rao đàn ông vang lên ngắn ngủi, nặng trĩu, đi nhanh qua nhà, Tiếng rao nhanh quá đến nỗi tôi có cảm tưởng ông ta không muốn có nguời mua. Khoắng chân xuống giường t́m được đôi dép, người bán bánh đă đi xa, chưa kể khoác vội cái áo ngoài cho tươm tất, đàng hoàng. Có lẽ người đàn ông đi rao hàng bằng xe đạp, đạp qua nhà cô em út của vợ tôi. Tôi tưởng tượng cảnh ông ấy đèo thúng bánh nóng hổi và nặng, phía trước hay phía sau chiếc xe cũ, đạp ào qua từng nhà, hay luồn lách qua ngơ hẻm khác.

“Bánh gị…”

Có lẽ bây giờ là 3 hay 4 giờ sáng. Có người đă thức giấc, chuẩn bị đi làm ca đầu.
Rồi đến tiếng rao của cậu bé bán báo rơ mồn một:
“Báo mới đây… Báo Công An, Lao Động, Pháp Luật, Thanh Niên, Tuổi Trẻ đây…”

Cậu bé rao một hơi những cái tựa báo như đă cố học thuộc ḷng từ trước, và h́nh như cậu ta đă mang chân không, đôi chân bé bỏng không giầy dép ǵ cả.

Th́ ra… tôi đă thức cả đêm nghe tiếng rao hàng.
Biết bao giờ mới hết tiếng rao hàng hằng đêm trên quê hương tôi để trả những bà mẹ cho các trẻ thơ đang khao khát một giấc ngủ êm đềm?

Hà Việt Hùng



 

 


VĂN CHƯƠNG

Bài vở cũ 2016
Bài vở cũ 2015
Bài vở cũ 2014
Bài vở cũ 2013 
Bài vở cũ 2012

Truyện Ngắn

Hồi ức - Một thời chinh chiến 
No Easy Day - Ngày Vất Vả

Những bài viết của Bất Khuất


Quỳnh Hương diển tích
Để nhớ để quên
Cờ ḿnh!
Khắc chữ Tự Do
Mai cai hạ  
Củ khoai ḿ
Khinh Binh 344
Tết


Câu chuyện người lính VNCH  
Chàng... Donald Trump 
Trần Hoài Thư, người ngồi vá lại những linh hồn  
Người đàn bà trên cầu Nitelva
Thư số 67c - Gửi người lính QĐND  
Nói chơi mà không phải nói giỡn  
Mẹ
Chôn súng
Đứa con thất lạc  
Tháng Tư nhớ về các chiến sĩ đă hy sinh oanh liệt  
Phúc ấm con ban !!!  
Formosa với nỗi buồn Tháng Tư
Một ngôi sao quư vừa tắt  
Không quên ngày Quốc Hận 30 tháng 4 – 1975  
Sau 42 năm mất SaiGon
Nghĩ về người vợ lính
Chân dung người vợ lính VNCH
Tôi không chết đâu  
Tháng tư đen, không dễ ǵ quên  
Câu chuyện về đôi đũa  
Những ngày tháng ba  
Những ngày tháng tư  
Tâm thư - Những ngày cuối tháng 4  
Nguyễn Đức Quang, khi bài hát trở về
Hăy ngủ yên Đà Nẵng của tôi ơi
Ngày 29-3-1975: Đà Nẵng trong cơn hấp hối  
Nh́n lại ḿnh sau 42 năm tỵ nạn, từ tháng 4-1975  
Đờn ca tài tử miền tây
Nói với người trung đội trưởng cũ ...  
Đồi Delta  
Những bước chân vào đời

Bao giờ cho tôi quên
Vài kỷ niệm về Tết trong tù Hà Nội
Mùa xuân trên quê hương ngoài kư ức  
Xin một đời góa bụa cùng anh  
Đón xuân này nhờ xuân xưa  
Nằm đêm nghe tiếng rao hàng
Như vằng trăng khuya
Góc tối  
Cho nhuẩn nhuyễn ra  
Người bạn Khóa 2 Học Viện Cảng Sát Quốc Gia  
Chúc Tết  
Đầu năm viết cho con gái  
Bên nhau đi nốt cuộc đời