NGHĨ VỀ NGƯỜI VỢ LÍNH

Vơ Đại Tôn

Đêm xứ người, trời bỗng nhiên trở lạnh. Chập chờn qua khói thuốc c̣n đọng lại trong căn pḥng âm u, tôi nghe tiếng nấc của bà quả phụ Thiếu Tướng Lê Văn Hưng thoát ra từ cuộn băng ghi âm : “Xin ḿnh cho em chứng kiến giây phút cuối cùng của ḿnh...”. Một tiếng đạn nổ, khô khắc vang lên từ ống loa hay từ một thuở nào trong cơn biến loạn. Có lẽ cũng từ ḷng tôi. Ngậm ngùi, tôi đứng dậy tắt máy. Nh́n ra khung cửa mù sương, trí tưởng nhạt nḥa lại đưa tôi về một vùng trời hẻo lánh Tiền Giang với khu đồn Giồng Riềng bó rọ trong mấy ṿng kẽm gai hoen rỉ và mười sáu quả lựu đạn cuối cùng. Nghĩa Quân Lê Văn Hùng và người vợ lính Phạm Thị Thàng. Hơn mấy chục năm về trước, thuở tóc tôi chưa đau từng sợi bạc. Quân ta tăng viện, chiếm lại khu đồn sau trận tiến công biển người của địch. Trong khói lửa ngập vùng, hỏa châu bừng sáng, tiếng nấc của thương binh và tiếng vặn ḿnh của gỗ sắt ḥa lẫn với tiếng nổ rời rạc của vài viên đạn gặp lửa bùng lên. Tôi nghe anh Phó Đồn cụt chân kể lại : - sau khi chồng bị tử thương, chị Thàng ẳm hai con nhỏ núp sau ụ đất với một thùng lựu đạn 16 quả. Cánh tay của người vợ lính vung lên, từng tiếng nổ ầm, át cả tiếng khóc trẻ thơ. Mười lăm quả lựu đạn vút đi, ngăn chân biển địch.

Thùng lựu đạn chỉ c̣n đây một quả
Em dâng anh với cả t́nh yêu.

Chị Thàng đă tự sát cùng với hai con trẻ để đi theo chồng là Nghĩa Quân Lê Văn Hùng vào cơi vĩnh hằng, cô đơn, côi cút và âm thầm trong cuộc chiến. Người vợ lính đă nuôi con bằng gạo Quân Tiếp Vụ, hạnh phúc b́nh thường qua bữa cơm với cua đồng cá nội. Ảnh của chị đă được treo lên tại góc đường Hồng Thập Tự và Lê Văn Duyệt ở Saigon một thuở nào giữa ḍng người thờ ơ qua lại. Người phụ nữ miến Nam với nụ cười đơn sơ chất phác, e ấp qua mảnh khăn rằn. Từ Bến Hải đến Cà Mau, bước chân của người vợ lính ẳm con đi theo chống khắp bốn vùng chiến thuật. Không có những móng chân đỏ hồng nhưng đă tạo nên những vần Thơ dường như huyền sử.

Tôi quay lại bấm máy. Tiếng nói của Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn vang lên qua từng loạt đạn nổ ... “Thiếu Tướng biểu y lệnh hả Chị ? Dạ, tôi sẵn sàng...”

Tôi lại tắt máy, không dám nghe nữa, có lẽ v́ mặc cảm tự ti, hay thấy ḿnh quá nhỏ bé trước những tiếng vọng anh hùng. Lại châm thêm điếu thuốc, ngọn đồi Chu Prao hiện về. Người nữ sinh sắc tộc Thái Trắng sinh tại Đơn Dương, hoa khôi Đà Lạt một thời với tên Đèo-Nàng-Hoa. Lấy chồng là Trung Sĩ Biệt Kích Trường Sơn, tên Neo Krông, da sạm đen với bắp tay cuồn cuộn như một nhánh cây rừng. Trong một lần đi toán, Neo Kkrông đă không về lại. Tặng tiền tử của chồng cho một viện mồ côi, Đèo-Nàng-Hoa đă đi tu và xin chuyển ra làm việc trong trại cùi ở Qui Nhơn. Có một lần tôi gặp lại nàng khi tôi đến thăm mộ Hàn Mặc Tử. Người nữ sinh vợ lính thuở nào như bóng của huyền thoại đă trở thành D́ Phuớc. Nh́n cặp mắt đen mà nghe cả tiếng thông reo. Bàn tay của D́ Phước Đèo-Nàng-Hoa đă bắt đầu ửng đỏ bệnh phong, sự thật hay do tôi tưởng tượng ? Khi ra khỏi trại cùi, tôi không dám quay nh́n lại, tâm hồn của người vợ lính b́nh thản đă nạm vàng trong khi bóng tôi bên đường chỉ là cát bụi. Tiếng thơ của Hàn Mặc Tử lại vọng qua gió thổi ŕ rào : “Run như run hơi thở chạm tơ vàng”.

Tiếng của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam trầm buồn nhưng cương quyết : “Làm tướng mà không giữ được nước được thành th́ phải chết theo thành theo nước...”. Tôi nghe mủi ḷng rưng rưng. H́nh ảnh của người vợ lính ven sông Thu Bồn dắt con qua bao chuyến tàu chợ từ Quảng Nam ra miền Bắc t́m chồng trong tù gọi là “cải tạo”. Nước mắt âm thầm chảy xuống dặm đường oan nghiệt, chân giẫm lên sỏi đá chia ĺa. Một gói đường phèn, một lon muối ớt, với tất cả t́nh thương mộc mạc, đơn sơ như thửa ruộng bờ đê, chắt chiu từng đồng, lặn lội gần một tháng trường gian khổ để chỉ được vài ba tiếng đồng hồ im lặng nh́n con, nh́n chồng tả tơi trong manh áo tù không án. Tù của một giai đoạn lịch sử oan khiên, tù của một chế độ bạo tàn, mà người mẹ và vợ lính không bao giờ hiểu nghĩa. Gần suốt đời cam phận bóng mờ di chuyển theo chồng qua bao trại gia binh, sinh con trong những khu đồn hẻo lánh, để rồi hôm nay bên cạnh tên cúng cơm lại bị ghi thêm hai chữ “Vợ Ngụy” ! Từ ngữ sao mà cay nghiệt, nặng trĩu hận thù!

Người vợ lính chẳng hiểu v́ sao ?

Có người cầm tấm thiệp mời dự Ngày Quân Lực, mấy chục năm rồi xa Tổ Quốc, nhếch môi phán rằng : Quân với Lực làm ǵ nữa, phí một ngày đi chơi cuối tuần ! – Tôi cũng cầm tấm thiệp, vặn máy tăng âm cho tiếng vang từ cuộn băng bừng lên, căn pḥng dồn dập tiếng đạn xa xưa ... Tôi ôm đầu, quặn đau cả ḷng. Từ trong tâm tưởng, tôi nghe có tiếng bước chân âm thầm của những người mẹ và vợ lính. Phạm thị Thàng, Đèo-Nàng-Hoa... và hàng triệu bóng dáng phụ nữ Việt Nam một thời khói lửa, son sắt thủy chung, đang nh́n tôi qua màn sương lạnh. Nỡ nào quên t́nh đồng đội, quên những người mẹ và vợ lính đạm bạc, không cần lịch sử ghi danh, đă và đang khóc, thương con thương chồng cùng thương Nước với tấm ḷng biển rộng trời cao ! H́nh ảnh của người mẹ và vợ lính sống măi trong Hồn Dân Tộc với niềm hănh diện cô đơn.

Rồi một ngày không xa, tôi sẽ được vô vàn diễm phúc đứng bên cạnh đường lịch sử vinh quang rợp bóng Cờ Vàng trên quê hương để ngắm nh́n các mẹ, các chị, các em, mỉm cười trong ân nghĩa T́nh Người :

Gặp nhau biết nói ǵ hơn
Cười vui trong gió tóc vờn cờ bay !

Vơ Đại Tôn

 


VĂN CHƯƠNG

Bài vở cũ 2016
Bài vở cũ 2015
Bài vở cũ 2014
Bài vở cũ 2013 
Bài vở cũ 2012

Truyện Ngắn

Hồi ức - Một thời chinh chiến 
No Easy Day - Ngày Vất Vả

Những bài viết của Bất Khuất


Quỳnh Hương diển tích
Để nhớ để quên
Cờ ḿnh!
Khắc chữ Tự Do
Mai cai hạ  
Củ khoai ḿ
Khinh Binh 344
Tết


Thư số 67c - Gửi người lính QĐND  
Nói chơi mà không phải nói giỡn  
Mẹ
Chôn súng
Đứa con thất lạc  
Tháng Tư nhớ về các chiến sĩ đă hy sinh oanh liệt  
Phúc ấm con ban !!!  
Formosa với nỗi buồn Tháng Tư
Một ngôi sao quư vừa tắt  
Không quên ngày Quốc Hận 30 tháng 4 – 1975  
Sau 42 năm mất SaiGon
Nghĩ về người vợ lính
Chân dung người vợ lính VNCH
Tôi không chết đâu  
Tháng tư đen, không dễ ǵ quên  
Câu chuyện về đôi đũa  
Những ngày tháng ba  
Những ngày tháng tư  
Tâm thư - Những ngày cuối tháng 4  
Nguyễn Đức Quang, khi bài hát trở về
Hăy ngủ yên Đà Nẵng của tôi ơi
Ngày 29-3-1975: Đà Nẵng trong cơn hấp hối  
Nh́n lại ḿnh sau 42 năm tỵ nạn, từ tháng 4-1975  
Đờn ca tài tử miền tây
Nói với người trung đội trưởng cũ ...  
Đồi Delta  
Những bước chân vào đời

Bao giờ cho tôi quên
Vài kỷ niệm về Tết trong tù Hà Nội
Mùa xuân trên quê hương ngoài kư ức  
Xin một đời góa bụa cùng anh  
Đón xuân này nhờ xuân xưa  
Nằm đêm nghe tiếng rao hàng
Như vằng trăng khuya
Góc tối  
Cho nhuẩn nhuyễn ra  
Người bạn Khóa 2 Học Viện Cảng Sát Quốc Gia  
Chúc Tết  
Đầu năm viết cho con gái  
Bên nhau đi nốt cuộc đời