BÊN ANH... C̉N CÓ EM


Tác giả: BK Lê Văn Năm (32)




NHỚ LẠI THƯƠNG XƯA

Gần hai mươi năm làm thân viễn xứ, sống tạm dung nơi đất khách quê người. Tôi bỏ lại phía sau những kỷ niệm thân thương của thời thanh xuân trai trẻ, những ngày tháng hồn nhiên tưởng như không bao giờ mất. Cứ ngỡ rằng thời gian sẽ đủ dài để chôn vùi quá khứ, xóa nḥa những nỗi đau của một kiếp người bất hạnh. Nhưng không. Tuổi càng lớn, kư ức càng trở về dữ dội, dằn dặt, đay nghiến, như những vết thương cũ bị gió lạnh vô t́nh khơi lại.

Từng cơn gió lành lạnh thổi qua. Mùa Thu vừa đi th́ mùa Đông đă tới. Nh́n những chiếc lá đổi màu vàng úa, chỉ một cơn gió thoảng cũng đủ làm bao nhiêu chiếc lá ĺa cành, rơi rụng. Ngẫm lại đời người, có khác ǵ những chiếc lá kia đâu – đến lúc cũng phải rời cành, không hẹn ngày trở lại.

Mùa Thanksgiving lại về. Mùa Lễ Tạ Ơn. Mùa để người ta ngoái nh́n quăng đời đă đi qua mà nói hai tiếng cám ơn. Tôi muốn cám ơn đời, cám ơn Cha Mẹ, Thầy Cô, bạn bè trường Nông Lâm Súc B́nh Dương – những người đă cho tôi biết thế nào là niềm vui, thế nào là cay đắng, đă dạy tôi bước vào đời bằng cả hy vọng lẫn chịu đựng.

Và tôi cám ơn Em – người t́nh đầu, người vợ hiền, người bạn đời – đă cưu mang, đùm bọc tôi qua bao thăng trầm của kiếp sống.
Ngồi trước ánh lửa bập bùng của ḷ sưởi trong đêm đông giá lạnh, nghe tiếng củi khô nổ tí tách như những lời th́ thầm, tôi bỗng thấy ḿnh như bị kéo ngược về miền quá khứ … Và tôi cầm bút bắt đầu ghi lại câu chuyện của đời ḿnh...


NHẬT KƯ NHỮNG NGÀY XÂY MỘNG

Năm 1969, tôi trúng tuyển vào lớp 10 ban Công Thôn khóa 3, trường Trung học Nông Lâm Súc B́nh Dương - một cái tên nghe vừa lạ, vừa thân thương, như chứa đựng cả một miền đất hứa.. Giă từ thầy cô và bạn bè lớp 9 trường trung học Văn Hiến, tôi bước vào ngôi trường mới với bao nhiêu bâng khuâng, bỡ ngỡ của tuổi vừa lớn.

Mỗi sáng sớm, tôi đánh xe từ nhà ở Thủ Đức lên B́nh Dương, qua những con đường c̣n vắng bóng xe, qua những cánh đồng sớm mờ hơi sương. Chiếc Honda màu đen mới toanh mà Ba Mẹ tặng tôi nhân ngày thi đậu trường là con chiến mă trung thành, đă chở tôi đi qua bao buổi sáng tinh sương và bao buổi chiều muộn. Tôi vẫn c̣n nhớ rơ cái cảm giác lạ lẫm trong ngày đầu tiên đứng trước cổng trường – ḷng tôi rộn ràng lên những câu hỏi không lời, những bối rối như của một đứa trẻ vừa mới chập chững bước ra khỏi ṿng tay tuổi thơ.

Ban Công Thôn – nghe như mang theo một sứ mệnh. Lúc ấy tôi không rơ ḿnh sẽ học ǵ, chỉ biết bạn bè đồn nhau: “Phải giỏi Toán, mới theo ban Công Tôn nổi.” Nhưng dần dần, tôi hiểu rằng chúng tôi học ngành này để phục vụ nông thôn – học để cày, để đo đạc, để tính toán cho những cánh đồng, con đê, mương dẫn nước... Những bài giảng khô khan bỗng trở nên sinh động khi áp dụng lên thực tế đồng ruộng ở quê nhà.

Sân trường vào giờ ra chơi luôn tấp nập bóng áo nâu. Đám con trai ban Công Thôn gần như áp đảo – Trong lớp chỉ có ba cô nữ sinh nhỏ bé tên là Chung, Kiếm và Khôi. Những bóng dáng lặng lẽ ấy như điểm xuyến dịu dàng giữa không khí đầy bụi đất và nắng gió. Đám con trai chúng tôi, như một lẽ tự nhiên, suốt ngày chỉ chăm chăm thả dê xuống các lớp dưới. C̣n tôi – chẳng hiểu v́ cớ ǵ – vẫn lặng lẽ đi về một ḿnh, sáng đi sớm, trưa về lặng lẽ. Trong tôi luôn có một khoảng trống không tên.

Có lần, theo trường đi cổ vũ đá banh, tôi không vào sân. Tôi chỉ đứng bên ngoài ôm đống quần áo cho bạn bè, miệng th́ la hét cổ vũ như chính ḿnh đang ở giữa trận. Có lẽ đó là lần đầu tôi cảm nhận được niềm vui đơn sơ của t́nh đồng đội, dù là kẻ đứng ngoài lề. Tôi từng nghĩ, nếu không có mấy thằng cổ động viên la hét khàn cổ ngoài sân, liệu người trong sân có đá hết sức ḿnh hay không?

Giờ nghỉ trưa, tôi thường một ḿnh phóng xe xuống quán cơm xă hội gần đó. Ăn xong, về lại lớp học. Có những lúc tôi thầm mong, giá như có ai đó ngồi sau xe ḿnh, để con đường trở về bớt trống trải, nh́n mấy thằng bạn phía sau có chở mấy em áo nâu nho nhỏ, xinh xinh, khiến ḷng tôi không khỏi ganh tỵ. Nh́n lại ḿnh và chiếc xe trống trơn, tôi tự hỏi: tại sao ḿnh không làm được điều đó?

Thế rồi, tôi bắt đầu yêu thích ngành học của ḿnh lúc nào chẳng hay. Những buổi thực hành trắc địa khiến tôi say mê – vác máy ngắm trên vai, đi ra nông trại, nghe thầy giảng về cách đo góc và cắm cọc tiêu. Có những buổi trời nắng chang chang, thầy vừa quay lưng đi là cả bọn tôi quay ống kính về phía mấy bạn nữ ban Canh nông đang cuốc đất thực tập gần đó, miệng cười h́ h́ b́nh phẩm. Tôi – vẫn nhút nhát như thường lệ – chỉ dám lén lia máy, thu gần h́nh ảnh lại để nh́n rơ hơn đôi bàn tay nhỏ nhắn lấm bùn của ai đó. Cái nh́n ấy, giờ đây nghĩ lại, vẫn khiến tim tôi cảm thấy ấm áp lạ thường.

Trường trung học Trịnh Hoài Đức nằm bên cạnh trường Nông Lâm Súc B́nh Dương là nơi chúng tôi thỉnh thoảng “vượt biên tinh thần” sang "tham quan". Những tà áo dài trắng bay trong gió, những mái tóc xơa ngang lưng, những ánh nh́n vụng trộm trao nhau khiến tim của đám học tṛ đập rộn ràng. Có những lúc tôi và thằng bạn đứng ŕnh đứng phía sau cổng rào, chỉ để chờ một ánh mắt của ai đó!

Một kỷ niệm đáng nhớ nhất và không thể quên là có lần cả lớp tôi cùng Thầy Bùi Châu Dương xây cổng trường. Chúng tôi căng dây, trộn vữa, trét xi măng – làm cả tháng trời vật vă. Khi cổng trường dựng xong, nh́n lại th́ thấy: cổng trên th́ nhỏ, giữa ph́nh, dưới teo. Cả lớp cười ầm, thế là làm lại. Lần này có kinh nghiệm hơn, trát dày chỗ lơm, mài mỏng chỗ ph́nh. Cuối cùng cũng dựng xong chiếc cổng hoàn chỉnh. Nhưng khi treo bảng tên trường với hàng chữ “Trung học Nông Lâm Súc B́nh Dương” và không hề có tên Ban Công Thôn, có đứa nào đó thở dài:
– Chúng ḿnh đúng là đứa con ngoài giá thú!

Không ai nói ǵ, nhưng tất cả đều hiểu. Ban Công Thôn chúng tôi như đứng giữa khoảng giao thoa – học hành chăm chỉ, nhưng không được nhắc đến tên. Làm mọi thứ từ xây dựng chuồng trại cho ban Mục Súc đến sửa máy cày cho ban Canh Nông. Nếu ngày ấy có thêm ban Thủy Lâm, chắc tụi tôi c̣n phải học thêm nghề rèn lưỡi cưa, sửa búa ŕu!

Nhưng tôi chưa từng hối hận. Ba năm ấy – từ 1969 đến 1972 – là những năm tháng rực rỡ nhất của tuổi trẻ. Chúng tôi mang trong ḿnh niềm tin rằng kiến thức có thể làm thay đổi cuộc đời người nông dân – những con người chân lấm tay bùn, lưng cong v́ trời, mặt rám v́ đất. Tôi không chỉ học nghề, mà học để hiểu người, hiểu quê hương.

Đó là những ngày tháng tuổi trẻ trong veo – chưa vướng bận, chưa mất mát, chỉ có hoài băo, tiếng cười, và một chút ǵ đó rất mơ hồ tên là … t́nh yêu!


TIẾNG SÉT TRONG QUÁN BI-DA

Tiếc thay, chiến tranh ngày một leo thang. Những hoài băo và ước mơ đành gác lại. Tôi lên đường nhập ngũ theo tiếng gọi núi sông.

“Đáp lời Tổ quốc lâm nguy
Sinh viên xếp bút ra đi diệt thù.”


Giă từ màu áo nâu Nông Lâm Súc, giă từ ngôi trường mến yêu, tôi nhập ngũ ngày 26 tháng 10 năm 1972, theo học khóa 8B+C/72 Bất Khuất. Ba tháng đầu thụ huấn ở TTHL Quang Trung, rồi đi chiến dịch, sau đó về Trường Sĩ quan Thủ Đức. Ngày măn khóa 20/10/1973, với lon Chuẩn úy trên cổ áo, tóc húi cua, nước da sạm nắng, tôi không c̣n là cậu học sinh nhút nhát như ngày nào.

Sau thời gian nghỉ phép, tôi từ giă gia đ́nh đến nhận đơn vị tại tiểu khu Kiến Tường – vùng đất miền Tây thấm đẫm sông nước và chiến sự. Trên đường đi qua ngă ba Trung Lương đến Cai Lậy. Rồi từ Cai Lậy đến Mộc Hoá theo con đường tỉnh lộ 29 thường xuyên mất an ninh v́ hay bị Việt Cộng phục kích. Bản thân tôi đâu biết những nguy hiểm đang chờ chực cho những ai mặc đồ quân phục, đă thế trên cổ tôi c̣n đeo lon Chuẩn uư mới toanh. Cùng đi trên chuyến xe đ̣ có vài bác lớn tuổi khuyên tôi nên thay đồ dân sự, nhưng v́ tự ái của người lính và trên xe c̣n có cô gái trẻ xinh xinh khiến tôi bất chấp nguy hiểm. Cuối cùng tôi cũng đến được bộ chỉ huy Tiểu Khu an toàn. Đây là bài học đầu tiên cho sự cảnh giác mà tôi cần phải dẹp bỏ tự ái cá nhân trước khi quyết định.

Sau khi làm thủ tục tŕnh diện đơn vị xong, trong lúc chờ đợi những thằng bạn khác đến sau, tôi thả bộ tà tà ra chợ cách tiểu khu khoảng 300 mét, trùng hợp vào thời gian đó là các cô nữ sinh trường trung học Mộc Hoá tan học, nh́n những tà áo dài trắng líu lo cười cười, nói nói, ḷng tôi bổng dưng chùng xuống, một cảm giác nghẹn ngào bất chợt dâng lên cổ. Mới ngày nào, cách đây một năm ḿnh c̣n ôm cặp. Chỉ một thời gian ngắn tất cả đă đổi thay. Thấy tôi đứng trên đường một ḿnh và có lẽ nh́n mặt chàng sĩ quan c̣n hơi mùi sữa và trông ngô ngố, dăm ba cô gái bèn buông lời chọc ngẹo mà tôi không dám trả lời.

Sau đó tôi bắt thăm và được bổ nhiệm về một Tiểu Đoàn tác chiến với chức vụ Trung đội Trưởng. Tôi thực sự bước vào khói lửa của chiến tranh và bom đạn. Mỗi kinh nghiệm trải qua phải đánh đổi bằng máu và nước mắt của những người lính đồng đội. Tương lai là một điều ǵ xa xôi lắm mà thân phận của người lính không bao giờ dám nghĩ đến, chỉ biết cuộc sống hiện tại.

Ngày đầu tiên được nghỉ sau đợt hành quân dài, tôi lang thang ra phố, định t́m một quán nước. Phố xá vắng lặng. Ánh nắng buổi chiều nhàn nhạt phủ lên những mái nhà tôn bạc màu. Khi tôi ngang qua một quán bi-da nhỏ bên hông chợ, tiếng cười nói rộn ràng của nhóm lính trẻ trong ấy như kéo tôi vào.

Tôi định sẽ lặng lẽ đi qua... cho đến khi ánh mắt tôi dừng lại ở một người con gái!

Cô ngồi phía trong góc quán, cạnh một chiếc máy may cũ. Dáng người nhỏ nhắn, mái tóc dài chấm vai, đôi mắt tṛn xoe đen lay láy như chứa cả một bầu trời xa xăm nào đó. Mắt cô vô t́nh nh́n tôi – đúng hơn là nh́n về phía tôi, rồi đột ngột chạm nhau. Chỉ một giây, nhưng tôi nghe tim ḿnh như hẫng đi một nhịp!

Tôi đứng thừ ra, tay c̣n cầm nón. Gió chiều bất chợt nổi lên nhẹ nhẹ, làm tà áo cô khẽ lay, như sóng gợn trên mặt hồ. Không biết có phải là “tiếng sét ái t́nh” như người ta vẫn nói hay không, nhưng tôi biết... từ khoảnh khắc ấy, trái tim tôi sẽ không c̣n b́nh yên như trước nữa.

Tối hôm đó, tôi về trại với tâm trí xáo trộn. Tôi nằm nh́n trần nhà tôn lạnh, tiếng dế ngoài rào kêu ri rỉ, trong đầu tôi cứ hiện lên đôi mắt ấy. Tôi nhớ lại từng chi tiết: đường cong nơi g̣ má, cách cô nghiêng đầu chăm chú vào đường chỉ và ánh mắt nh́n về phía tôi … khiến tôi không dám thở mạnh!

Sáng hôm sau, tôi lại ra phố, cố ư đi ngang qua quán ấy lần nữa. Vờ như t́nh cờ. Cô vẫn ngồi đó. Tôi lân la lại gần:

– Xin lỗi… cô có vá đồ lính không?

Cô nh́n tôi. Mắt vẫn tṛn, vẫn sâu. Nhưng lần này có thêm chút dè chừng:

– Dạ… em chỉ may và sửa đồ lính thôi ạ.

– Vậy… cô có biết chỗ nào vá đồ không?

– Dạ… không rơ… tùy đồ… ông bị rách chỗ nào?

Tôi chỉ tay lên ngực áo:

– Ở đây... nhưng là rách ở bên trong.

Cô thoáng đỏ mặt. Tôi không biết tim cô có đập nhanh không, nhưng tim tôi th́ như trống trận:

– Nếu tôi đưa áo ra… cô có vá giùm không?

Cô không trả lời, chỉ cúi đầu, tay vân vê mép vải. Tôi thấy ḿnh như đang bước vào một trận chiến khác – không khói lửa, không đạn bom – nhưng cũng đầy rẫy những hiểm nguy cho trái tim tôi.

Trở về doanh trại, tôi nằm miên man suy nghĩ. Trận đầu tiên này, tôi thấy ḿnh chới với. Chưa biết thắng hay thua, nhưng chắc chắn là không c̣n đường lui. Rồi tôi bỗng thấy lạ: con gái vùng 4 mà sao nói giọng Nam pha Bắc. Tôi thiếp đi trong tiếng hát ai đó vẳng đâu đây:

“Này cô em Bắc Kỳ nho nhỏ…”

Từ hôm đó, tôi thường xuyên ghé quán – khi th́ vá áo, khi th́ đơm lại nút áo, khi th́ chẳng có lư do ǵ. Tôi bắt đầu nói chuyện với mẹ cô – một người đàn bà gầy g̣, hiền hậu, sống bằng nghề may vá qua ngày. Tôi kể bà nghe về quê tôi, về ngôi trường Nông Lâm Súc, về những lần dựng cổng, trộn xi măng, và cả những trận hành quân giữa rừng già.

Rồi tôi bắt đầu để lại bộ đồ trận cũ – nhờ cô vá lại. Không biết có phải tôi cố t́nh làm rách hay không, chỉ biết là càng lúc tôi càng có cớ để gặp cô nhiều hơn.

Những lần đầu, chúng tôi chỉ trao nhau những câu nói xă giao. Nhưng rồi… từng lời, từng ánh mắt, từng nụ cười nhỏ dần trở thành điều tôi chờ mong. Tôi kể cô nghe về giấc mơ một ngày không c̣n chiến tranh. Cô không nói ǵ nhiều, chỉ ngồi lặng lẽ lắng nghe. Nhưng ánh mắt ấy… lúc nào cũng đăm đắm như sẵn sàng in h́nh tôi măi măi.

Rồi một ngày, tôi đứng dậy, chắp tay sau lưng, nghiêm túc hỏi:

– Nếu chiến tranh kết thúc, em có về Thủ Đức cùng tôi không?

Cô ngẩng đầu lên, ánh mắt lặng như nước hồ thu:

– Nếu anh c̣n sống...!

Tôi cười. Cô không cười. Tôi chợt hiểu, chiến tranh là một điều ǵ rất thật với cô – nó đă mang đi quá nhiều thanh xuân của biết bao người con gái.

Nhưng rồi, định mệnh vẫn chọn chúng tôi.


LỄ CƯỚI TRONG MÙA CHIẾN TRANH

T́nh yêu giữa tôi và cô gái nhỏ năm ấy chẳng có lấy một lời tỏ t́nh trọn vẹn. Chúng tôi không có dịp đi bên nhau trên những con đường lăng mạn, không có những bó hoa hồng, không có những lời thề non hẹn biển. Chúng tôi chỉ có những buổi chạm mắt vội vă giữa hai lần hành quân, những lần trao đồ, những câu nói vu vơ đầy ẩn ư – và một nỗi nhớ luôn âm ỉ cháy trong ḷng.

Cô không cần hỏi tôi có yêu cô không – ánh mắt tôi đă trả lời hết. C̣n tôi cũng chẳng cần nghe lời cô đáp – sự dịu dàng trong cách cô đợi tôi, nh́n tôi, và giữ im lặng… đă đủ hơn vạn lần xác tín.

Rồi mọi chuyện đến với chúng tôi tự nhiên như một lẽ thường: lễ hỏi, lễ cưới.

“Ngày hợp hôn tôi mặc đồ hành quân,
Bùn lầy khô bết đôi giày chiến sĩ…”


Không hiểu sao lời bài hát ấy lại ứng vào đời tôi đến như vậy.

Ngày cưới, đơn vị tôi lại đang hành quân liên miên. Thương vong nhiều. Tôi từ Trung đội trưởng lên Đại đội phó, rồi Quyền Đại đội trưởng. Tôi làm đơn xin phép cưới vợ, nhưng đơn vị trưởng không cho rời vùng hành quân. Tôi cự nự với Tiểu đoàn trưởng. Hôm sau, một ngày trước lễ cưới, ông gọi tôi vào pḥng:

– Chuẩn úy, tôi cho anh 48 giờ nghỉ phép và hai người lính theo bảo vệ. Kịp giờ th́ cưới, không kịp th́ coi như duyên số của anh không đủ.

Tôi gật đầu. Trái tim như vỡ ̣a. Đêm đó tôi không ngủ được. Tôi lau sạch bộ đồ trận cũ, ủi tươm tất, chải lại đôi giày śnh đất. Không veston, không cà vạt, chỉ có bộ quân phục sờn vai – là thứ trang trọng nhất đời tôi lúc đó.

Chúng tôi đi ṛng ră suốt buổi sáng. Đường xấu, trời đổ mưa rào. Khi đến được nhà gái th́ đă trưa. Tôi bước xuống xe, vai ướt, giày lấm, nhưng mắt th́ sáng như lửa. Trước cổng nhà, quan viên hai họ đang chờ. Cô dâu ngồi trong, nghe tin tôi đến, vội bước ra – ánh mắt em ngỡ ngàng, rồi vỡ ̣a trong mừng tủi. Tôi đứng thẳng người, nghiêm chỉnh chào:

– Xin lỗi mọi người … tôi đến trễ.

Mẹ cô nh́n tôi, đôi mắt vừa nghiêm vừa ấm. Bà gật đầu, chỉ nói một câu:

– Thời này, miễn c̣n sống về cưới… là quư rồi.

Lễ cưới diễn ra đơn sơ. Chiếc bàn gỗ giữa sân, mâm trầu cau lác đác, vài ly trà thay rượu vang. Bạn bè tôi vắng mặt gần hết – họ đang ngoài mặt trận. Bên cô, chỉ có vài người thân. Nhưng ánh mắt chúng tôi nh́n nhau – là đủ cả một đám cưới linh đ́nh.

Cô bước đến, khoác tay tôi. Áo dài trắng, mái tóc xơa nhẹ, gương mặt thẹn thùng như thể chưa từng dám mơ đến giây phút này. Tôi khẽ nghiêng đầu, th́ thầm:

– Em đồng ư rồi nhé… làm vợ anh, dù đời có ra sao đi nữa.

Cô gật, mắt rưng rưng:

– Miễn anh c̣n sống… là đủ với em rồi.

Tôi quay đi vội. Tôi không muốn ai thấy mắt tôi cũng vừa cay.

Sau lễ cưới, tôi trở lại đơn vị. Cô ở lại, tiếp tục nghề may, chờ đợi trong lặng lẽ. Tôi – đại đội phó, rồi quyền đại đội trưởng – lại lao vào khói lửa. Mỗi trận đánh là một lần kư gửi sinh mạng cho định mệnh. Nhưng giờ đây, tôi không c̣n chiến đấu chỉ v́ Tổ quốc. Tôi c̣n chiến đấu để trở về ... với cô.

Đêm đầu tiên sau đám cưới, tôi nằm trong hầm cá nhân giữa rừng, nhớ lại mọi chuyện. Lần đầu gặp. Lần đầu nói chuyện. Lần đầu cầm tay nhau giữa phiên chợ quê vắng người. Lần đầu gọi nhau bằng một tiếng thân mật hơn: “ḿnh ơi!”.

Trong chiến tranh, một đám cưới là điều xa xỉ. Nhưng tôi có. Tôi có được điều đó – và tôi hứa với ḷng: sẽ giữ lấy nó bằng mọi giá.


NGƯỜI VỢ LÍNH

Cuộc sống hôn nhân của chúng tôi bắt đầu không phải bằng tuần trăng mật, mà bằng một đêm chia tay. Sau lễ cưới vội vàng trong bộ quân phục c̣n mùi bùn đất, tôi lại lên đường, trở lại vùng hành quân với những người lính đang chờ đợi. Em – người vợ trẻ – tiễn tôi bằng ánh mắt lặng thinh, nơi không có nước mắt, chỉ có sự can trường.

Mỗi lần hành quân qua những cánh rừng ngập nước hay những xóm làng khét mùi thuốc súng, tôi lại nghĩ đến em. Người con gái mảnh mai ấy giờ đă trở thành vợ lính – một danh phận không vương miện, nhưng đầy gian truân. Em sống trong ngôi nhà nhỏ, bên chiếc máy may, gồng gánh tất cả phần đời c̣n lại của chúng tôi khi tôi vắng mặt. Không ai dạy em làm vợ lính. Nhưng em làm được. Em lặng lẽ, kiên cường, chẳng một lời than thở.

Đêm đêm, em thức may đồ thuê, vá áo cho lính, tích cóp từng đồng. Ban ngày, em ra chợ mua từng kư gạo, gói mắm, chút muối khô, gom góp gửi vào vùng hành quân. Những lá thư em gửi không bao giờ quá dài, nhưng luôn kèm thêm một câu dặn ḍ: “Coi chừng bom ḿn, nhớ ăn đủ bữa.”

Tôi c̣n giữ lá thư đầu tiên em gửi sau cưới:

“Anh, em không biết ngoài ấy có lạnh không. Ở nhà em vẫn c̣n giữ áo anh đă mặc hôm cưới. Em giặt rồi, nhưng vẫn để riêng – v́ nó có mùi bùn của rừng, và mùi anh. Nếu có điều ǵ xảy ra… anh ráng nhớ là em vẫn đang đợi. Mỗi ngày. Mỗi đêm.”

Có những buổi sáng, em bồng đứa con đầu ḷng mới sinh, lặn lội đi thăm tôi ở trại dă chiến. Bàn chân em dẫm qua bùn non, qua đường sỏi, qua những nơi mà ngay cả đàn ông cũng ngán ngại. Đứa bé chưa từng thấy mặt cha, chỉ quen với mùi áo lính và tiếng súng vọng từ radio. Nhưng em vẫn đi. Em không hề quay lưng.

Rồi chiến tranh kết thúc. Nhưng với chúng tôi, đó không phải là ngày đoàn viên. Tôi bị bắt. Bị giam trong trại cải tạo. Và em – người vợ của một người lính bại trận – bắt đầu một hành tŕnh mới, đơn độc và lặng câm.

Không ai đón em bằng ṿng hoa. Không có ai nói lời chia sẻ. Em sống trong sự ḍm ngó, trong những ánh nh́n vừa thương hại, vừa dè chừng. Nhưng em không gục. Em chống lại mọi cám dỗ, vượt qua những khó khăn, nuôi con, chờ chồng trong vô định.

5 năm 8 tháng tôi trong tù– em đi thăm nuôi đều đặn, vượt qua hàng trăm cây số đường rừng, đường núi. Có những lần em đem theo con, gửi nhà người quen để lẻn vào trại. Có lần em bị xô té v́ chen hàng, găy cả móng tay, bầm cả cánh tay. Nhưng chưa bao giờ em nói với tôi một lời trách móc.

Tôi ra tù. Thân thể tàn tạ. Linh hồn trống rỗng. Tôi đứng trước cửa, không dám gơ. Nhưng em đă chạy ra. Ôm lấy tôi. Như chưa từng có cuộc chia ly.

Không cần nói. Không cần nước mắt. Chỉ có một câu nhẹ nhàng em nói bên tai:

– Về rồi hả ḿnh… Về rồi th́ thôi, đừng đi nữa.

Người vợ lính. Không phải là người phụ nữ đẹp nhất tôi từng gặp. Nhưng là người đàn bà mạnh mẽ nhất đời tôi. Cô đă đi cùng tôi qua chiến tranh, qua chia cắt, qua những năm tháng đói khổ và tù tội… mà chưa bao giờ buông tay.

Mỗi lần nh́n gương mặt em ngủ yên bên ánh lửa ḷ sưởi, tôi lại thầm nhủ: nếu có kiếp sau… xin được làm chồng em lần nữa.


NGÀY TRỞ VỀ

Tôi rời trại cải tạo vào một buổi chiều xám xịt. Không trống, không kèn, không tiễn đưa. Một bộ đồ lính cũ vá chằng chịt, một chiếc nón lá lật và đôi dép ṃn gót là tất cả những ǵ tôi có sau 5 năm 8 tháng bị giam giữ. Cánh cổng trại mở ra, con đường phía trước mịt mờ bụi đỏ, chẳng biết đâu là ngă rẽ về nhà. Nhưng tôi bước đi – từng bước nặng nề, vừa ngỡ ngàng, vừa đau đáu hy vọng.

Kư ức tôi lẫn lộn. Có người trở về, vợ con đă bỏ đi. Có người trở về, nhà chỉ c̣n lại một mái tranh dột. Tôi sợ. Sợ rằng em đă không đợi. Sợ rằng chiến tranh và thời gian đă tước đoạt mất người duy nhất c̣n đợi tôi trên đời.

Nhưng khi tôi về tới đầu xóm, đứa trẻ hàng xóm chạy về gọi lớn:

– Má Hai ơi! Có người lạ, mặc áo lính cũ, đứng ngoài cổng ḱa!

Tôi đứng chết trân. Từ trong nhà, em chạy ra. Dáng em nhỏ lại hơn xưa, gầy g̣ hơn, tóc đă cắt ngắn. Nhưng đôi mắt ấy, ánh nh́n ấy… vẫn là em. Vẫn là người con gái tôi từng yêu dưới tán cây bàng của quán bi da năm nào.

Em chạy đến. Không nói. Không khóc. Chỉ ôm tôi thật chặt.

– Về rồi hả ḿnh…

Tôi gật đầu. Hơi ấm từ cơ thể em làm tôi bủn rủn. Tôi không biết ḿnh đang mơ hay thật. Tôi cứ đứng như vậy, để mặc cho em ôm. Một người hàng xóm đi ngang buột miệng:

– Trời ơi… nó c̣n sống thiệt ḱa!

Em dẫn tôi vào nhà – căn nhà nhỏ, mái ngói cũ, vách ván vá chằng chịt. Trong góc là chiếc máy may cũ của em, vẫn đặt ngay ngắn như thuở nào. Trên bàn là bát cơm nguội và chén mắm kho. Tôi nh́n thấy một tấm ảnh cưới nhỏ đặt sát mép bàn – ảnh của chúng tôi, ngày tôi mặc bộ đồ lính bê bết bùn, em mặc áo dài trắng ngồi nép bên tôi. Ảnh đă phai màu, nhưng ánh mắt hai người trong đó vẫn rạng ngời như mới hôm qua.


Con gái tôi – năm ấy mới hơn sáu tuổi – đứng nép sau cánh cửa, nh́n tôi không chớp mắt. Nó chưa từng biết mặt cha. Tôi đưa tay ra:

– Lại đây con.

Nó bước tới, chậm răi. Khi bàn tay nhỏ chạm vào tay tôi, tôi bỗng thấy tim ḿnh nghẹn lại. Tôi quỳ xuống, ôm lấy con vào ḷng, lần đầu tiên được làm cha… như một con người thật sự.

Những tháng ngày sau đó là cuộc sống bắt đầu lại từ con số âm. Không nghề nghiệp. Không hộ khẩu. Không tương lai. Nhưng tôi có em. Có con. Có một mái nhà. Có cơm độn khoai và có nụ cười.

Tôi làm đủ mọi nghề – từ bốc vác, vá xe, cày thuê, gánh nước… chỉ để sống và nuôi con ăn học. Em th́ mở lại máy may, nhận đồ về sửa, may áo cho bà con. Đêm đêm, hai vợ chồng ngồi bên ánh đèn dầu leo lét, vá áo và kể nhau nghe về những giấc mơ không thành.

Có đêm, tôi nắm tay em thật chặt:

– Em có tiếc không? V́ đă chọn anh?

Em cười, lắc đầu:

– Nếu có tiếc… th́ chỉ tiếc là ḿnh không có nhiều hơn thời gian bên nhau.

Tôi ôm em vào ḷng. Lặng yên. Không cần thêm lời nào nữa. Bởi có lẽ, không ai hiểu t́nh yêu – bằng người đă đi qua chiến tranh, chia cắt, đói nghèo… và vẫn c̣n nắm tay nhau mỗi đêm.


NHỮNG NGÀY VIỄN XỨ

Cuộc sống sau ngày trở về không dễ dàng. Bao nhiêu năm tù tội không chỉ cướp đi sức khỏe, mà c̣n lấy mất cả tư cách công dân. Tôi từng là sĩ quan, từng có học vấn, từng được kỳ vọng… giờ đây thành người vô h́nh giữa ḷng xă hội. Nhưng tôi không oán trách. Tôi c̣n em, c̣n con, c̣n mái nhà nhỏ – và điều đó với tôi là cả một kho tàng.

Rồi một ngày, như nhiều người khác, tôi mang trong ḿnh một hy vọng – vượt biên. Chuyến đi được giữ kín. Đêm đó, em gói cho tôi gói cơm nắm, chiếc khăn tay và ảnh nhỏ của hai vợ chồng. Em không khóc, chỉ nắm tay tôi thật lâu:

– Anh đi đi… Nếu thoát được, t́m cách cho mẹ con em đi sau. Nếu không… th́ ḿnh c̣n duyên kiếp khác.

Tôi bước đi, không dám ngoái đầu. Biển đêm lạnh và mênh mông vô cùng. Thuyền nhỏ, người đông, gió quật từng đợt tưởng chừng có thể nuốt trọn tất cả. Tôi ngồi bó gối bên mạn thuyền, tay nắm chặt chiếc khăn tay – nơi vẫn c̣n hương em vương lại.

Tôi đến được bến bờ tự do. Không hiểu v́ sao tôi may mắn. Có lẽ là số phận. Có lẽ là nhờ lời cầu nguyện của em.

Những ngày đầu ở trại tị nạn, tôi làm bất cứ việc ǵ có thể: phụ bếp, dọn vệ sinh, dạy kèm tiếng Việt… Chỉ mong gom góp đủ điều kiện để bảo lănh gia đ́nh. Mỗi lá thư tôi gửi đi đều đẫm nước mắt, nhưng cũng đầy hy vọng. Em ở bên kia, vẫn chờ. Vẫn nuôi con, vẫn giữ nhà, vẫn tin tôi sẽ giữ lời.

5 năm sau, em và con đến nơi. Ngày gặp lại nhau nơi phi trường, em bước ra từ làn người nhập cư, tay ôm con, mắt ngấn nước. Tôi chạy đến, ôm chầm cả hai, không thốt được lời nào. Chúng tôi đă sống sót. Chúng tôi c̣n ở bên nhau.

Những năm tháng ở xứ người là hành tŕnh tái sinh. Tôi học lại từ đầu: ngôn ngữ, công việc, cách sống trong một thế giới hoàn toàn khác. Em đi làm may, tôi đi làm hăng, rồi sau đó học lấy bằng lái, học sửa máy, học nghề… Chúng tôi dành dụm từng đồng, nuôi con ăn học, mua căn nhà nhỏ, trồng vài khóm hoa trước cửa – để nhớ quê.

Những mùa đông đầu tiên lạnh buốt. Em thường run rẩy, ngồi bên ḷ sưởi, nhắc về những ngày nắng phương Nam. Có lần em nói:

– Ở đây tuyết đẹp, nhưng buồn quá anh ơi!

Tôi kéo em lại gần:

– Nhưng miễn c̣n có em, th́ ở đâu cũng là nhà.

Năm tháng trôi. Con lớn khôn. Tôi già đi. Em cũng già đi. Nhưng chúng tôi vẫn giữ thói quen mỗi chiều cuối tuần – ngồi bên nhau, uống trà nóng, nhắc lại chuyện xưa, cười nhẹ như gió lướt qua lá.

Đă gần ba mươi năm tôi sống nơi viễn xứ. Mỗi độ lễ Tạ ơn, tôi lại ngồi viết vài ḍng hồi tưởng – như một cách tri ân. Tri ân cuộc đời, tri ân quê hương, tri ân những con người đă một thời đi qua tôi – và để lại dấu vết.

Đêm nay, tuyết lại rơi ngoài hiên. Em ngủ yên bên ḷ sưởi. Tôi nh́n em, nh́n lại chính ḿnh trong chiếc gương mờ năm tháng… rồi thầm th́:

– Cám ơn đời. Bên anh… c̣n có em.

Mùa Lễ Tạ ơn 28/11/2013.

Lê Văn Năm
(Khóa 3 Công Thôn / Nông Lâm Súc B́nh Dương)

 

 

 


VĂN CHƯƠNG

 Bất Khuất

Tập Truyện Thuyền Đời  


Bên anh... c̣n có em  
Kư sự - Ngày trở về  
Đời cứ như là mơ  
Mối t́nh qua hai thế hệ  
Những điều đến muộn màng 
Lời nói cứu người .. Lời nói giết người
Nửa đường gẫy cánh
Bẫy T́nh  
Nửa vầng trăng khuyết  
T́nh yêu trong thời loạn  
Kỷ niệm chuyến đi
Những giờ phút khó quên  
Kỷ niệm dấu yêu  
Thoại Sơn: Mối t́nh đầu  
Chuyện t́nh khó quên  
May mắn & Hên xui trong đời lính chiến  
Ba, bốn phát  
13 người cuối cùng về từ Tiền đồn 3&4 Kon-Tum  
Passage to Freedom
Đất nước tôi!  
C̣n nhớ mùa xuân
Tết  
Rồi lá thay màu  
Từ gịng sông này  
Làng tôi  
C̣n đó tuổi thơ  
Tháng 7 trời mưa  
Chuyện đang cần đề tựa  
Hành tŕnh đến Tự Do  
Ngày tan hàng
Dzi-ke
Cô gái làng Đông Tác - Dĩ An  
Dở dang  
Tất niên "Nội" 2015-2016  
Tết trong kỷ niệm  
Để nhớ, để thương
42 năm t́nh cảm đồng môn  
42 Năm T́nh  
Chúc mừng hội ngộ  
Tôi và Tiểu Đoàn 7 TQLC  
Thơ gửi Đại Gia 
Dấu ấn vào đời  
USA 20 năm và Tôi  
Hăy c̣n đó niềm tin  
Pleiku và hoài niệm  
Kư sự những ngày tháng 2  
Một mảnh đời  
Xuân quê hương
Một chuyến về thăm nhà
Tết đến
Một buổi chiều, hai người già
Đời người như thoáng mây bay
Hồi tưởng về một cánh Dù đơn lẻ
Bất Khuất của tôi
Nó và Tôi
C̣n nợ Thanh An
Mùa Đông năm ấy
Kể chuyện chúng ḿnh
Hai h́nh ảnh - một cuộc đời
No Easy Day - Ngày Vất Vả
Những ngày hè không thể quên !
Họp mặt
Những cái tên không thể quên !
40 năm Bất Khuất
Hành tŕnh của 5 ngày t́m về một thời tuổi trẻ  
Kỷ niệm Quân trường: Đi Phép - Về Phép
Thuyền đời
Cuộc sống của người lính chiến ĐPQ & NQ
Highway of Heroes
Nắng ấm quê hương
Truyện dài Bất Khuất
Thuyền đời ơi !
Những thằng chúng tôi
Bài thơ trên đồi Bác sĩ Tín
Viên đạn vang rền
Chuyện t́nh trái ngang
Khối diễn hành
Băi tập
Lễ măn khóa
Một Đời Bất Khuất
Kỷ niệm Quân Trường - Về phép
Kỷ niệm Quân Trường - Cúp phép
Hồi tưởng chiến trường 1062 Thượng Đức
Dọc đường gió bụi
T́nh Bất Khuất
Ngày xưa thân ái
Tôi đi lính
Bất Khuất
Quan Âm Tây Du Hí truyện
Làm trong sáng tiềng Việt
Hạ cờ tây
Thù dai
Kỷ niệm khó quên
Trận cuối trong đời lính của tôi
Khúc hát Quân Hành
Một nỗi đau
Thủ Đức - Tuần huấn nhục
Tâm thư của Cố Thiếu Úy Trần Văn Quí
Trận Ô-Căm
Một lần vĩnh biệt
Một lần đi
Chuyến đi cuối năm
Nhớ về mái trường xưa
Phạm Xuân Tịnh - Một cuộc đời
Những ngày tháng không quên
Tự do ơi, tự do!
V́ hai chữ Tự Do
Ngh́n trùng cách biệt
Thầy Chín
Để nhớ để quên