THÁNG TƯ ĐEN – NỖI ĐAU C̉N ĐÓ, DANH DỰ C̉N ĐÓ
Viết với tâm t́nh của một quân nhân Việt Nam Cộng Ḥa
Mỗi năm, khi tháng Tư trở lại, ḷng tôi lại bàng hoàng như sống lại những ngày cuối cùng của miền Nam tự do. Dù thời gian đă đi qua hơn nửa thế kỷ, biến cố 30 tháng 4 năm 1975 vẫn c̣n nguyên trong kư ức của những người lính Việt Nam Cộng Ḥa như một dấu ấn bi thương không thể phai mờ. Đó không chỉ là ngày tan hàng của một quân đội, mà c̣n là ngày sụp đổ của một chính thể, ngày quê hương rơi vào tay cộng sản, ngày mở ra một thời kỳ quốc biến đau thương cho hàng triệu người dân miền Nam.
Chúng tôi là những người đă bước vào quân ngũ khi tuổi đời c̣n rất trẻ. Từ quân trường Quang Trung, Thủ Đức, từ những ngày thao diễn dưới ánh nắng gắt, từ những buổi học tập quân sự trong tiếng kèn, tiếng súng, chúng tôi lớn lên trong kỷ luật, trong tinh thần trách nhiệm, và trong niềm tin phải bảo vệ miền Nam tự do. Chúng tôi ra đơn vị, mang theo lư tưởng của người quân nhân quốc gia: bảo quốc an dân, giữ vững bờ cơi, ǵn giữ tự do cho đồng bào ḿnh.
Người lính Việt Nam Cộng Ḥa chiến đấu không phải chỉ v́ quân lệnh. Chúng tôi chiến đấu v́ sau lưng ḿnh là gia đ́nh, là xóm làng, là mái trường cũ, là nghĩa trang tổ tiên, là màu cờ vàng ba sọc đỏ mà chúng tôi đă tuyên thệ trung thành. Bao nhiêu chiến hữu của tôi đă ngă xuống trên khắp bốn vùng chiến thuật, từ cao nguyên gió bụi đến đồng bằng sông nước, từ những tuyến đầu heo hút cho đến những địa danh mà nay chỉ c̣n tồn tại trong kư ức của người c̣n sống.
Có người ra đi khi tuổi đời mới đôi mươi. Có người vừa rời quân trường chưa bao lâu đă nằm xuống nơi chiến địa. Có người sáng c̣n đứng trong hàng ngũ, chiều đă trở thành tử sĩ. Họ hy sinh trong danh dự của người lính chiến. Họ ngă xuống với niềm tin rằng ḿnh đang làm tṛn bổn phận đối với Tổ quốc, đối với chính thể, đối với đồng bào miền Nam. Hôm nay, khi nhắc lại tháng Tư năm ấy, tôi không thể không cúi đầu tưởng niệm những chiến hữu đă bỏ ḿnh v́ đại nghĩa quốc gia.
Ngày 30 tháng 4 đến với chúng tôi như một nhát cắt oan nghiệt của lịch sử. Bao nhiêu đơn vị bị buộc phải buông súng trong nỗi nghẹn ngào tột cùng. Bao nhiêu quân nhân phải chứng kiến lá cờ ḿnh phục vụ bị kéo xuống trong đau đớn và tủi nhục. Đó là giờ phút mà không một người lính chân chính nào có thể quên. Bởi kể từ giây phút ấy, không chỉ quân đội thất thủ, mà cả một miền Nam tự do cũng bước vào bóng tối.
Nhưng tai họa chưa dừng ở đó. Sau ngày mất nước, người lính Việt Nam Cộng Ḥa không được đối xử như những quân nhân của một quốc gia bại trận theo thông lệ chiến tranh. Trái lại, chúng tôi bị lùa vào các trại gọi là “học tập cải tạo,” nhưng thực chất là những năm dài lao tù, khổ sai, đói rét, bệnh tật và nhục nhằn. Biết bao chiến hữu của tôi đă chết dần chết ṃn trong rừng sâu núi thẳm, không thuốc men, không thăm nuôi đầy đủ, không hy vọng ngày về. Có người chết âm thầm trong tù ngục, thân xác vùi nơi đất lạ, không một nén nhang của gia đ́nh.
Những năm cải tạo đó là một phần máu xương của đời chúng tôi. Đó là quăng đời bị cướp mất trong tuổi đang c̣n sức sống. Đó là những ngày tháng mà một người lính quốc gia, vốn quen sống trong danh dự và hàng ngũ, bị đẩy vào cảnh tù đày, bị làm nhục, bị tước đoạt quyền làm người. Nhưng dù phải chịu đựng đến đâu, trong sâu thẳm ḷng ḿnh, chúng tôi vẫn biết ḿnh không hề hổ thẹn. Bởi chúng tôi đă chiến đấu cho lư tưởng tự do, và đă thua v́ thời cuộc, chứ không thua v́ hèn nhát.
Nếu c̣n một điều ǵ khiến chúng tôi có thể gượng đứng qua những năm dài ấy, th́ đó chính là t́nh chiến hữu, là niềm tin vào lẽ phải, và là sự hy sinh vô bờ của những người vợ, người mẹ, người con nơi quê nhà. Những chuyến thăm nuôi lặn lội, những gói quà đạm bạc, những giọt nước mắt âm thầm của người thân đă nuôi sống chúng tôi qua những tháng năm đen tối nhất của đời ḿnh.
Rồi một ngày, nhờ chương tŕnh HO, nhiều người trong chúng tôi mới có cơ hội rời khỏi quê hương, đem theo vợ con t́m đường đến bến bờ tự do. Chúng tôi đến nước Mỹ không phải như những người di dân b́nh thường, mà như những người sống sót sau một cơn quốc nạn. Chúng tôi mang theo trong hành trang không chỉ là ít vật dụng của đời sống, mà c̣n là cả một trời kư ức: kư ức quân trường, kư ức chiến trường, kư ức lao tù, kư ức về một miền Nam đă mất.
Trên đất mới, chúng tôi làm lại cuộc đời bằng đôi tay đă chai sạn v́ chiến tranh và tù ngục. Dù tuổi đời đă lớn, dù ngôn ngữ c̣n xa lạ, dù hoàn cảnh c̣n chật vật, chúng tôi vẫn gầy dựng lại mái ấm cho gia đ́nh, nuôi dạy con cháu nên người, và cố giữ cho nhau ngọn lửa của t́nh chiến hữu năm xưa. Nhưng dù cuộc đời có đi về đâu, trong ḷng người lính Việt Nam Cộng Ḥa, tháng Tư năm 1975 vẫn là một mốc đau thương không bao giờ khép lại.
Hôm nay, ở tuổi xế chiều, chúng tôi không c̣n mong ǵ cho riêng ḿnh. Điều chúng tôi mong chỉ là lịch sử được nh́n lại cho công b́nh, là sự hy sinh của quân dân cán chính miền Nam được ghi nhận đúng mức, là danh dự của người lính Việt Nam Cộng Ḥa được trả về đúng chỗ của nó. Chúng tôi chiến đấu cho tự do. Chúng tôi đă sống đúng với lời thề danh dự. Chúng tôi có thể thua trận, nhưng không thể bị xóa bỏ phẩm giá.
Trong ngày tưởng niệm Tháng Tư Đen, tôi xin nghiêng ḿnh trước anh linh những chiến hữu đă vị quốc vong thân, trước những người đă bỏ xác trong các trại tù cải tạo, trước những gia đ́nh đă tan nát v́ cơn quốc biến năm xưa. Tôi cũng xin thắp một nén ḷng cho miền Nam Việt Nam tự do – một miền Nam tuy không c̣n nữa trên bản đồ chính trị, nhưng vẫn c̣n sống măi trong trái tim của hàng triệu người con quốc gia.
Tháng Tư Đen là một ngày đau thương. Nhưng trong đau thương ấy, vẫn c̣n một điều không mất: đó là danh dự của người lính Việt Nam Cộng Ḥa.
Và chừng nào những người lính ấy c̣n được nhắc nhở, chừng đó chính nghĩa quốc gia vẫn chưa hoàn toàn bị dập tắt trong kư ức dân tộc.BK Lê Văn Năm
Tiếng trống Mê Linh
Ốm vợ
Một
đời nỗi trôi
Một đời bị bẻ găy - Một
đời đi t́m tự do
Bên anh... c̣n có em
Kư sự - Ngày trở về
Đời cứ như là mơ
Mối t́nh qua hai
thế hệ
Những điều đến
muộn màng
Lời nói cứu
người .. Lời nói giết người
Nửa đường gẫy cánh
Bẫy T́nh
Nửa vầng trăng
khuyết
T́nh yêu trong
thời loạn
Kỷ niệm chuyến đi
Những giờ phút khó quên
Kỷ niệm dấu yêu
Thoại Sơn:
Mối t́nh đầu
Chuyện t́nh khó
quên
May mắn &
Hên xui trong đời lính chiến
Ba, bốn phát
13 người cuối cùng về
từ Tiền đồn 3&4 Kon-Tum
Passage to Freedom
Đất nước tôi!
C̣n nhớ mùa xuân
Tết
Rồi lá thay màu
Từ gịng sông này
Làng tôi
C̣n đó tuổi thơ
Tháng 7 trời mưa
Chuyện đang
cần đề tựa
Hành tŕnh đến
Tự Do
Ngày tan hàng
Dzi-ke
Cô gái làng
Đông Tác - Dĩ An
Dở dang
Tất niên
"Nội" 2015-2016
Tết trong kỷ niệm
Để nhớ, để thương
42 năm t́nh
cảm đồng môn
42 Năm T́nh
Chúc mừng hội ngộ
Tôi và Tiểu Đoàn 7
TQLC
Thơ gửi Đại Gia
Dấu ấn vào đời
USA 20 năm và Tôi
Hăy c̣n đó niềm
tin
Pleiku và hoài
niệm
Kư sự
những ngày tháng 2
Một mảnh đời
Xuân quê hương
Một chuyến về
thăm nhà
Tết đến
Một buổi
chiều, hai người già
Đời người như
thoáng mây bay
Hồi tưởng về
một cánh Dù đơn lẻ
Bất Khuất của tôi
Nó và Tôi
C̣n nợ Thanh An
Mùa Đông năm ấy
Kể chuyện chúng
ḿnh
Hai h́nh ảnh -
một cuộc đời
No Easy Day - Ngày Vất Vả
Những ngày hè
không thể quên !
Họp mặt
Những cái
tên không thể quên !
40 năm Bất Khuất
Hành tŕnh
của 5 ngày t́m về một thời tuổi
trẻ
Kỷ niệm Quân trường:
Đi Phép - Về Phép
Thuyền đời
Cuộc
sống của người lính chiến ĐPQ & NQ
Highway of Heroes
Nắng ấm quê hương
Truyện dài Bất Khuất
Thuyền đời ơi !
Những thằng
chúng tôi
Bài thơ trên
đồi Bác sĩ Tín
Viên đạn vang rền
Chuyện t́nh trái
ngang
Khối diễn hành
Băi tập
Lễ măn khóa
Một Đời Bất Khuất
Kỷ niệm Quân Trường - Về phép
Kỷ niệm Quân Trường - Cúp phép
Hồi
tưởng chiến trường 1062 Thượng Đức
Dọc đường gió bụi
T́nh Bất Khuất
Ngày xưa thân ái
Tôi đi lính
Bất Khuất
Quan Âm Tây
Du Hí truyện
Làm trong
sáng tiềng Việt
Hạ cờ tây
Thù dai
Kỷ niệm khó quên
Trận cuối
trong đời lính của tôi
Khúc hát Quân Hành
Một nỗi đau
Thủ Đức - Tuần huấn
nhục
Tâm thư của Cố Thiếu Úy
Trần Văn Quí
Trận Ô-Căm
Một lần vĩnh biệt
Một lần đi
Chuyến đi cuối năm
Nhớ về mái trường xưa
Phạm Xuân Tịnh - Một cuộc đời
Những ngày tháng
không quên
Tự do ơi, tự do!
V́ hai chữ Tự Do
Ngh́n trùng cách biệt
Thầy Chín
Để nhớ để quên