Những bài viết của Bất Khuất

Chuyện trăm năm - Trên quê hương - Audio
Chuyện trăm năm - Một ngày - Audio  
Trăm đắng ngh́n cay - Audio
Chiếc áo Bà Ba - Audio
Giữa đồng xưa - Audio
Áo trắng - Audio
Gửi nơi cuối trời - Audio
C̣n nhớ mùa xuân - Audio
Từ một chuyến đ̣ - Audio
Dêm thánh vô cùng - Audio
Khi mùa đông về  - Audio
Noel năm nào - Audio
Khúc quân hành - Audio
Cho ngàn sau - Audio
Ngh́n trùng xa cách  -  Audio
Rồi lá thay màu - Audio
Con chim biển 3 - T́m về tổ ấm - Audio
Con chim biển 2 - Trên biển khơi - Audio  
Con chim biển 1 - Tung cánh chim - Audio
Đốt sách ! - Audio
Đi học  
Sài G̣n - Audio
Thầy Chín - Audio
Đi buôn - Audio
Khi tôi về - Audio  
Làng tôi - Audio 
Sao em không đến - Audio  
Anh đi!  - Audio  
Vỉa hè đồng khởi - Audio
Ngày đại tang  
Chuyện mất chuyện c̣n  
Con chim Hoàng Yến - Audio 
Nhớ cả trời Việt Nam
C̣n thương quê hương tôi
Tôi muốn mời em về
Chuyện Tết
C̣n nhớ không em?
Trên đồi Tăng Nhơn Phú - Audio
Remember!
Cánh chim non - Audio
Đốt sách
Buổi tựu trường
Đêm trắng
Nước mắt trong cơn mưa   
Trăm đắng ngh́n cay  
Con đường tôi về
Hăy c̣n đó niềm tin
Chiều ra biển  
Những đứa con đẽ muộn  
Một thời kỷ niệm  
Băi tập
Bước chân Việt Nam
Người lính già
Để nhớ
Đi buôn  
Ngày anh đi  
Kỷ niệm xưa
Rồi tết lại đến
Bài thánh ca buồn
Tears of pride  
We remember
Vui - Buồn … Ngày hội ngộ 44 năm khoá 8B+C/72  
Mùa hè đỏ lửa  
Dư âm ngày hội ngộ 44 năm tại California  
Có chuyến bay  
Lời ca
Quỳnh Hương diển tích
Để nhớ để quên
Cờ ḿnh!
Khắc chữ Tự Do
Mai cai hạ  
Củ khoai ḿ
Khinh Binh 344
Tết


 

 


 

 

 

 

 

 

 

 

Trời chưa sáng hẳn, gió chắc c̣n say ngủ nằm yên đâu đó, không khí chừng như không di động. Căn pḥng nhỏ, chứa đến 9 người, hơi nóng tù túng hâm hẩm. Không khí trong đây cô đọng, đặc sệt các thứ hơi hám hỗn tạp từ người, từ các vật dụng của người đi định cư để lại cho thuyền nhân mới đến, cùng mùi oi nồng của xác rệp. Thiếu thoáng khí, dễ gây khó chịu, nhưng lại quen thuộc như những đêm c̣n nằm trong trại tù của quân cưởng chiếm miền Nam. Vạc cây rừng ghép lại thành một sạp dài, làm chỗ nằm cho cả pḥng; cái chông chênh khấp khểnh dưới lưng, làm giấc ngủ thêm trăn trở khó ngủ. Mấy ngày nay, lắm lúc tôi ngỡ ngàng, khi buổi sáng tỉnh giấc ngủ, thấy ḿnh đang nằm ở trên đảo Bidong, đang mang đời lưu vong, và quê hương Việt Nam đă xa mịt mờ nơi cuối trời.

Giờ th́ đă có ánh ban mai của một ngày mới, sáng dịu dàng bên khung cửa sổ. Tia sáng lấp lánh qua các khe hở tṛn tṛn, dài dài, đủ các h́nh thể trên vách. Vách là cấu trúc chèn ghép các vật liệu với nhau, để tạo thành tấm vách, trông giống như tấm vách. Một kết hợp tạp nhạp bằng các vật liệu thu nhặt được trên đảo như các mảnh ván tàu đen mốc, miếng tôn rỉ sét, tấm giấy cứng từ thùng đựng hàng hóa, miếng vải bao gạo, tấm nhựa,… bất cứ thứ ǵ có thể gá vào nhau để tạo bóng mát, che cái nóng gay gắt của mặt trời nhiệt đới, hay chặn bớt luồng mưa theo gió tạt vào bên trong của nơi tạm gọi là nhà. Trăn trở măi cũng không ngủ thêm được, tôi khẻ ngồi dậy, tránh khuấy động những người c̣n nằm ngủ chung dăy sạp với ḿnh. Lấy khúc thuốc đă hút một đoạn đêm hôm qua, cất để dành trên khung cửa; tôi thả bộ xuống băi biển.

Sáng sớm, nhưng không phải chỉ có ḿnh mới thức sớm. Đă có người ra đây từ hồi nào rồi. Không muốn quấy rầy những người ngồi một ḿnh, tôi theo khói thuốc phía trước, đến một nhóm thuyền nhân để nhờ mồi thuốc. Quanh tôi là những người đă cao tuổi; không biết v́ giấc ngủ đă trở thành khó khăn nên ngắn đi, hay khoắc khoải ưu tư thương nhớ quê nhà. Tất cả hầu như lặng yên, chỉ ngồi hút thuốc, hay … ngồi nh́n ra khơi.

Khu này, băi biển trống thoáng, không có các xác tàu thuyền. H́nh ảnh ghe tàu nằm trơ trụi trên băi cạn, thân gỗ vỡ bể, pḥng lái tan hoang,… trông buồn lắm! Nhiều ghe tàu vẫn c̣n đọc được số tàu, những dăy chữ số từ nước Việt ḿnh đấy… Xác chiếc ghe của chúng tôi không xa nơi đây, cách bờ biển Terengganu chừng 8 hải lư. Khối động cơ nặng nề đă kéo nửa sau của chiếc ghe cùng những người bạc mệnh ch́m xuống đáy biển. Đoạn mũi ghe trống nhẹ, bị dây neo giữ lại, chắc c̣n nằm nhấp nhô trên sóng, gần nơi bị hai chiếc tàu hải tặc Thái húc cho găy đôi.

Biển lặng, sóng đùa vào, trườn ŕ rào trên mặt san hô. Ngồi an toàn trên đất liền và ngắm nh́n làn sóng đă êm dịu khi vào đến bờ; đại dương lúc yên b́nh trông thật yên b́nh, thật dịu hiền, rất dễ thương. Trong sóng cuộn dậy ngoài khơi, ôm tấm ván vụn và trôi dạt qua đêm trên Biển Đông th́ khác lắm; biển với trời cùng là bóng tối mênh mông và đêm đen hăi hùng dài như bất tận. Ánh sáng của một ngày mới đă không bao giờ đến với nhiều người cùng ghe, và hàng trăm ngàn thuyền nhân người Việt ḿnh.

Xa xa phía trước là cầu Jetty dài thẳng tấp. Tôi trải mắt nh́n dọc theo hàng trụ đều đặn, đến khi các nhịp cầu mờ ch́m vào màn sương mù là đà trên mặt nước. Khung cảnh cầu tàu nằm trên mặt biển mờ dần trong sương mù, trông an b́nh, đẹp thơ mộng. Đây là một trong biết bao công tŕnh đáng ghi nhớ của Khối Xây Cất. Một trong các h́nh ảnh khó quên và dễ nhận ra trại tỵ nạn Pulau Bidong, đó là cầu Jetty. Jetty là cây cầu nổi, dài hơn 100 mét, được bắt ra từ bờ ra biển, tạo chỗ cho tàu cập bến. Đây là nơi đón thuyền nhân mới đến đảo, nơi tiễn người ra đi định cư, và c̣n là nơi hẹn ḥ t́nh tứ khi hoàng hôn về, trong những đêm trời biển yên b́nh, thuận ḥa.

Đêm ghe sắp đến cửa biển, bóng dáng cầu tàu dẫn lên trạm công an biên pḥng, chừng như đă làm bảy mươi ba trái tim của người vượt biển trên ghe chúng tôi đồng ngưng đập... H́nh ảnh cầu tàu gợi nhắc đến bến nhà và các cửa biển trên quê hương Việt Nam, nơi ghe ḿnh đă từng ghé qua và từ đó chạy ra ngoài khơi. Cũng chính những bến tàu ấy, người vượt biển không may bị bắt lại sẽ phải lê bước lên đồn công an, giao số mệnh cho kẻ có súng đạn trong tay. Chiều tối mấy hôm trước đây, chúng tôi đă được bước lên cầu Jetty, lếch thếch đi vào trại tỵ nạn Bidong. Chúng tôi may mắn đă sống sót, c̣n được thấy một ngày mới và được làm người tự do!

Cầu Jetty đă chào đón và tiển đưa người tỵ nạn cộng sản đến thế giới Tự Do, gắn liền với chuỗi ngày tạm trú trên Bidong, đă lưu lại lắm kỷ niệm trong ḷng người tỵ nạn. Với những thuyền nhân đă từng ở đảo Bidong, ngày tiển người rời đảo, có lắm niềm vui và cũng lắm nỗi buồn. Bài đọc tiển người đi định cư cùng các ca khúc như Biển Nhớ, Ngh́n Trùng Xa Cách,… từ Khối Thông Tin của trại, đă làm xúc động ḷng người ra đi và người c̣n phải ở lại đảo. Phải công nhận lời nhạc Biển Nhớ và Ngh́n Trùng Xa Cách, cũng trùng hợp với tâm t́nh tiển biệt nơi đây lắm. Lắm nước mắt cho người c̣n phải ở lại đảo và cũng lắm nước mắt cho người được ra đi định cư. Biển Nhớ và Ngh́n Trùng Xa Cách do hai tác giả khác nhau sáng tác và có nhiều ca sĩ đă hát hai bài này. Tựa bài hát nhắc nhớ đến những ca sĩ đă từng hát và được ái mộ, trong đó có Lệ Thu. Chị đến đảo này trước tôi, từ hôm tháng 11 năm 1979. Tin chị có mặt tại Bidong, truyền tai nhanh chóng. Tôi đến đảo buổi tối, sáng hôm sau đă có anh hàng xóm nói cho tôi có biết là “có Lệ Thu đang ở Bidong”. Thế là tôi được nghe chuyện chị vượt biên: Lệ Thu và con gái út vượt biển t́m tự do. Chuyến đi có vài nghệ sĩ khác như Ngọc Minh và Hoàng Thi Thao … Chị đă đến trại Bidong và đang chờ đi định cư…

Có tiếng phát thanh từ Khối Thông Tin!

Vậy là đă 8 giờ sáng rồi; tôi đứng dậy, đi nhận công tác trong trại.

Khối Thông Tin Văn Hóa ngoài việc chăm sóc thư tín cùng quà cáp của đồng bào ḿnh, c̣n thường xuyên tổ chức chương tŕnh văn nghệ với những nghệ sĩ từ Sài G̣n và các tỉnh ở miền Nam tự do, để sưởi ấm t́nh dân tộc, ḷng yêu nước của mọi người trên đảo. Không như cái giọng nói chói tai xóc óc kỳ lạ, từ các loa phát thanh của phường khóm trong chế độ đang cai trị Việt Nam hiện nay; tiếng nói từ Khối Thông Tin nơi đây như tiếng chim thân ái gọi đàn, đem hy vọng và t́nh thương sưởi ấm ḷng người ly hương trên đảo.

Buổi trưa nhàn hạ, tôi rời chỗ tạm trú, đi ḷng ṿng đảo. Rẻ sang phải một lúc, trước dăy nhà bên đường có nhóm người ngồi quanh một miếng ván, được kê cao bên trên mặt đất vài gang tay, làm mặt bàn. Trên bàn có các món thức uống dở dang, b́nh trà, ly cà phê cùng năm ba gói thuốc lá… Từ xa xa, người gần đấy đă nghe tiếng đàn và tiếng hát; tiếng hát của Lệ Thu. Nhiều năm lắm rồi, tôi chưa được nghe lại tiếng hát của chị. Sau khi chiếm được Sài G̣n, nhà cầm quyền đă khởi động chiến dịch bài trừ văn hóa miền Nam. Họ xua thanh thiếu niên cột băng đỏ, vênh váo đi lùng xét, để tịch thu và đốt tất cả sách, báo, băng nhạc tại Sài G̣n và các tỉnh thành ở miền Nam. Như sách và báo, nhạc của miền Nam cũng bị liệt vào loại quốc cấm, “văn hóa đồi trụy”. Người ta dùng quyền lực hủy diệt văn hóa và cấm đoán văn nghệ sĩ miền Nam; dành độc quyền cho các loại văn nô, chuyên hát ḥ ca tụng đảng và chủ nghĩa. Đă lâu lắm rồi tôi mới được nghe lại các sáng tác của văn nghệ sĩ miền Nam ḿnh và lại được nghe chị hát; hát từ trại tỵ nạn Bidong, từ Mă Lai. Hôm ấy, chị hát với Tây Ban Cầm đệm nhạc, thật giản dị. Tiếng hát của chị tự nhiên, không làm dáng, không tạo nét cầu kỳ, không khoe giọng; như gởi tâm t́nh ḿnh, nên dễ truyền cảm hơn. Tôi đứng cùng một nhóm người trên đảo, nghe chị tâm t́nh cùng tiếng đàn; bài hát dở dang như chuyện t́nh đă phải ngh́n trùng xa cách:

“Ngh́n trùng xa cách người đă đi rồi
C̣n ǵ đâu nữa mà giữ cho người...
Trả hết về người chuyện cũ đẹp ngời
Chuyện đôi ta buồn ít hơn vui
Lời nói, lời cười
Chuyện ngắn, chuyện dài
Trả hết cho người, cho người đi…”


Lệ Thu rời trại tỵ nạn năm 1980.

Năm 1981, tôi lại được nghe chị hát. Tiếng hát từ băng nhạc có tựa đề là “Lệ Thu – Hát Trên Đường Tử Sinh”, do Trung Nghĩa ḥa âm, từ pḥng thu âm của Sóng Nhạc (Sóng Nhạc mới thành lập tại Hoa Kỳ, sau ngày mất nước). Thời đó, nhạc được ghi âm trên băng nhựa gọi là băng cassette. Trên các quốc gia định cư ngoài nước Hoa Kỳ, người xa quê hương t́m mua được băng nhạc Việt Nam th́ mừng và quư lắm. Như tên tựa, “Hát Trên Đường Tử Sinh” gồm có 10 bài đều do Lệ Thu hát. Trong chủ đề “Hát Trên Đường Tử Sinh”, Lệ Thu đă hát một số bài đă có trước khi miền Nam bị cướp mất Sài G̣n, cùng những bài mới sau này; mới sáng tác trong thời kỳ đầu ở hải ngoại, với những ca khúc viết về t́nh cảnh, tâm trạng của thuyền nhân, của người Việt lưu vong, … do Phan Kiên biên soạn như bài Sài G̣n Của Tôi, và ca khúc Lấp Biển Vá Trời của Phạm Duy.

Phạm Duy đă viết Lấp Biển Vá Trời như sau:

“Chúa đă phán rằng có được niềm Tin
Th́ ḿnh có thể vá được trời xanh
Xê dịch núi rừng, lấp cạn trùng dương
Anh có nghe chăng?
Anh có nghe chăng lời em khấn nguyện
Khấn vái có ngày rung được trời đất
Để người yêu vượt thoát khỏi ngục thất
Bay được lên trời, hay vượt biển khơi.
Anh đến bên em
Anh đến bên em gần nhau suốt đời...

Địa ngục nơi chốn quê hương
Địa ngục trong bước tha phương.
Em khóc Đông Dương cùng chung số phận
Khóc thân anh vùi trong đói lạnh
Khóc cho tâm hồn em héo hon
Hồn em rách bươm.

Trận cuồng phong có đâu xa
Trận cuồng phong cuốn trong ta
Nơi trái tim em nổi cơn sóng thần
Sóng tung cao từng cơn uất hận.
Trái tim hay biển không đáy đây?
Để em đắng cay!

Nếu vẫn khó ḷng vá được trời xanh
Phận hèn không thể lấp cạn đại dương.
Xin được sống c̣n, giữ vẹn ḷng son
Xin măi yêu thương
Xin măi yêu thương người nơi cuối đường
Chúa sẽ thương t́nh vá lại hồn em.
Bằng niềm Tin để lấp biển sầu thương
Sống được trong đời, hy vọng c̣n nuôi
Nuôi măi tin yêu
Nuôi măi tin yêu, gửi nơi cuối trời ...”


Mở đầu cho bộ băng nhạc “Hát Trên Đường Tử Sinh” có đoạn nói rằng:

“Hát, không chỉ có nghĩa đem đi xa hơn những nỗi niềm, những cảm xúc có trong một nhạc phẩm.

Hát, cũng không chỉ có nghĩa thả vào không gian với một khoảng thời gian hữu hạn nào, những ư, t́nh, những hân hoan, đọa lạc của một nhạc sĩ.

Hát, hiểu theo nghĩa một nỗ lực tinh thần, một cố gắng tích cực thấp sáng đời sống, thấp sáng hạnh phúc, dù cho đó là thứ hạnh phúc có từ một vết thương.

Hát, hiểu theo nghĩa bằng chính tiếng hát đó, những cảm nhận, những bày tỏ qua âm nhạc của ta, phải trở thành bất tử.

Và sau cùng, hăy thử hỏi, ta có được bao nhiêu người mang sẵn trong tiếng hát của họ cùng lúc mặt trời và bóng tối.

Ta có nàng như ta có trong ta nỗi tử sinh”

Ṿng tử sinh vẫn tṛn xoay!

Những tiếng hát, cho dù đă hát trên đường tử sinh; tiếng hát cuốn theo sóng, “sóng tung cao từng cơn uất hận”, và rồi sóng cũng vỡ tan thành bọt biển. Bọt biển tan trong đại dương. Tiếng hát ch́m lắng trong ḷng người. Và lời nhạc chừng như cũng theo thời gian mà mờ ch́m vào quên lăng …

Ngoài khơi, Biển Đông chắc vẫn c̣n dậy sóng …

“Xin được sống c̣n, giữ vẹn ḷng son”

Và xin được … gửi nơi cuối trời!

Bùi Đức Tính
 

 

 

 


VĂN CHƯƠNG

2020
2018-2019
2017
2016
2015
2014
2013 
2012

Truyện Ngắn

Hồi ức - Một thời chinh chiến 
No Easy Day - Ngày Vất Vả


Sự tích bài thơ "Trèo lên cây bưởi hái hoa"
Thằng gà chết
Năm Gà Mổ
Tay muốn chạm tay
Pleiku, thơ và thi nhân
Tính trước  
Trận Pleime năm 1974
Không quên người chiền sĩ QLVNCH
Áo học tṛ và áo trận
Lê Bá Định, vị NT Không Quân khả kính  
Động cơ T53-L-13 của trực thăng UH-1  
Câu chuyện ‘Áo Lụa Hà Đông’  
Một thời vang bóng  
Khép một vầng trăng  
Sứ mệnh văn hóa  
Một cơn ác mộng  
T́nh yêu giữa tôi và nàng tiên  
Người tù đi gánh củi
Chuyến vượt biên của tôi
BV B́nh Dân những ngày khói lửa tháng 4-1975
Tưởng chừng đă quên
30 tháng 4 năm 1975 chị ở đâu?
Hào kiệt phương Nam - HQ Tr/Ta Ha Ngoc Lương
Hai người lính Dù
Tưởng niệm tháng tư đen lần thứ 46!
Một cơn ác mộng
T́nh yêu giữa tôi và nàng tiên  
Hồi kư "Dang Dở"  
Sự trả thù đê hèn và dă man của VC
Về Thăm quê cũ  
Buổi điểm danh cuối cùng  
Mai vẫn nở trên điêu tàn của Huế
Thằng "Nước Mắm"
Những mảng màu khô
Chữ nghĩa bây giờ
Xuất xứ những bài nhạc Việt vang bóng...  
Thiên lư tương ngộ  
Một cái Tết khó quên  
Tản mạn về “Trâu” qua Ca Dao VN  
Thăm lại đồi Charlie: Nghe người đi, linh hồn ở lại  
Đêm xuân nào tôi đến thăm anh
Sóng bạc đầu
Viết về Trâu  
Phi vụ tàu phép  
Tâm t́nh của một người trẻ...  
Trong cơn lốc đời  
Mỹ nhân và danh tướng  
Như một gịng sông  
Môt chuyến đi Hawaii  
Chuyện t́nh đẫm lệ thời chinh chiến  
Ba bỏ mẹ con đi rồi
Lăng kính dân tộc tôi...
Môt chuyến đi Hawaii  
Chuyện t́nh đẫm lệ thời chinh chiến  
Ba bỏ mẹ con đi rồi