Những bài viết của Bất Khuất

Chuyện trăm năm - Trên quê hương - Audio
Chuyện trăm năm - Một ngày - Audio  
Trăm đắng ngh́n cay - Audio
Chiếc áo Bà Ba - Audio
Giữa đồng xưa - Audio
Áo trắng - Audio
Gửi nơi cuối trời - Audio
C̣n nhớ mùa xuân - Audio
Từ một chuyến đ̣ - Audio
Dêm thánh vô cùng - Audio
Khi mùa đông về  - Audio
Noel năm nào - Audio
Khúc quân hành - Audio
Cho ngàn sau - Audio
Ngh́n trùng xa cách  -  Audio
Rồi lá thay màu - Audio
Con chim biển 3 - T́m về tổ ấm - Audio
Con chim biển 2 - Trên biển khơi - Audio  
Con chim biển 1 - Tung cánh chim - Audio
Đốt sách ! - Audio
Đi học  
Sài G̣n - Audio
Thầy Chín - Audio
Đi buôn - Audio
Khi tôi về - Audio  
Làng tôi - Audio 
Sao em không đến - Audio  
Anh đi!  - Audio  
Vỉa hè đồng khởi - Audio
Ngày đại tang  
Chuyện mất chuyện c̣n  
Con chim Hoàng Yến - Audio 
Nhớ cả trời Việt Nam
C̣n thương quê hương tôi
Tôi muốn mời em về
Chuyện Tết
C̣n nhớ không em?
Trên đồi Tăng Nhơn Phú - Audio
Remember!
Cánh chim non - Audio
Đốt sách
Buổi tựu trường
Đêm trắng
Nước mắt trong cơn mưa   
Trăm đắng ngh́n cay  
Con đường tôi về
Hăy c̣n đó niềm tin
Chiều ra biển  
Những đứa con đẽ muộn  
Một thời kỷ niệm  
Băi tập
Bước chân Việt Nam
Người lính già
Để nhớ
Đi buôn  
Ngày anh đi  
Kỷ niệm xưa
Rồi tết lại đến
Bài thánh ca buồn
Tears of pride  
We remember
Vui - Buồn … Ngày hội ngộ 44 năm khoá 8B+C/72  
Mùa hè đỏ lửa  
Dư âm ngày hội ngộ 44 năm tại California  
Có chuyến bay  
Lời ca
Quỳnh Hương diển tích
Để nhớ để quên
Cờ ḿnh!
Khắc chữ Tự Do
Mai cai hạ  
Củ khoai ḿ
Khinh Binh 344
Tết


 

 


 

 

 

 

 

 

 

 

Chưa đến 7 giờ sáng, bên trong Câu Lạc Bộ chỉ c̣n vài ba bàn trống. Giờ này có nhiều người ghé vào để ăn sáng hay uống cà phê trước khi đi làm việc. Câu Lạc Bộ gần bên Tiểu Khu, dành cho lính, nên hầu như chỉ thấy người mặc quân phục. Cũng có vài người có thể là quân nhân nhưng mặc thường phục, hay là thường dân đi kèm theo bạn bè hoặc thân quyến và ngồi cùng bàn bên màu áo trận. Nh́n quân phục, thấy áo quần thẳng nếp, đồng màu, đồng bộ; th́ biết, đa số là quân nhân làm việc văn pḥng. Không cần nh́n huy hiệu, cũng nhận ra ai là lính trận về tỉnh thành. Lính trận th́ mặc áo và quần có màu mới cũ trộn lộn, bất cần, có ǵ mặc nấy. Tuy chỉ có hai bộ, nhưng ướt rồi khô liên miên, chẳng ai để tâm mà thay, giặt hay mặc cho đúng bộ. Áo hay quần, cái nào cần và khi được dừng quân lâu th́ mới t́m chỗ có nước mà giặc giũ. Gọi là giặc giũ, thực ra chỉ nhúng áo hay quần xuống sông rạch cho ướt nước, rồi ṿ vắt cho trôi bớt bùn śnh, thế là đă sạch rồi. Không th́, cởi máng đâu đó một lúc cho khô ráo, hay có ánh mặt trời nung đốt bớt mồ hôi rồi mặc lại. Không như lính ở hậu cứ hay làm việc văn pḥng, quân phục thường được bỏ tiệm giặt ủi theo bộ, bộ nào ra bộ đó; áo quần có phai màu th́ cũng cùng một màu như nhau, trông đẹp mắt hơn. Cái quần trận của lính hành quân vùng śnh lầy th́ khác lắm; tùy theo thâm niên quân vụ của nó, màu phèn thâm vàng một đoạn ngắn, rồi nhuộm thành màu nâu đỏ cao đến nửa ống quần. Áo trận th́ vạt áo bên dưới lưng thường bị sờn rách lỗ chỗ, trước khi cỗ bị sờn rách; do loại giây nịt TAB cộm cứng và các vật trang bị đeo theo, chúng nó cạ móc vào vải theo mỗi bước chân... Ǵ th́ ǵ, người lính tác chiến thấy bộ đồ trận của ḿnh như thế, vẫn có nét đẹp riêng mà các bộ quân phục ủi hồ sắc cạnh không thể nào có được.

Có việc về tỉnh, tôi thường ghé vào Câu Lạc Bộ. Ở đây có cà phê và món ăn ngon, giá rẻ cho lính, và ở gần bên Tiểu Khu. Sáng thường có món trứng chiên c̣n nguyên tṛng đỏ, dân ḿnh quen gọi là trứng “ốp-la” (Oeufs au plat), ăn kèm với ổ bánh ḿ chỉ dài hơn gang tay một chút, nóng gịn và thơm ngon. Phần ăn sáng không làm no bụng như ăn bịt cơm gạo sấy, nhưng ngon hơn gắp cả trăm lần. Ở đây cũng có cà phê phin. Được lúc thư thả ngồi chờ cà phê trong phin chậm răi kết thành từng giọt thơm đậm, rồi nhâm nhi từng hớp nhỏ và lắng nghe hương vị Café du Monde thấm tan dần th́ thật là sảng khoái. Cái sảng khoái và ngon miệng ấy rồi cũng chỉ có vậy, chỉ là thoáng qua thế thôi, nhanh chóng ch́m loăng trong vô nghĩa và không mấy nuối tiếc; không giống như món gạo sấy ngâm nước sông rạch, vừa đi vừa ăn khơi khơi vẫn ngon, hay chia nhau nước cà phê nấu trong nón sắt. T́nh chiến hữu với từng miếng cơm gạo sấy hay hớp cà phê kho ấy, cứ nhớ hoài; 50 năm sau vẫn c̣n thèm nhớ.

Trở về đơn vị, tôi bàng hoàng khi hay tin Chuẩn úy Tuyết; dẫn trung đội tăng phái cho Hải Quân đi đổ toán tối hôm qua, sáng nay đạp trúng ḿn, anh bị mất bàn chân phải. Không phải lần đầu đơn vị bị tổn thất, thương vong. T́nh chiến hữu, mất mát nào cũng để lại lắm thương tâm. Nhưng tội nghiệp cho Tuyết lắm. Tuyết mới ra trường, được điều động về bổ sung cho đơn vị chúng tôi chừng ba tháng nay. Hôm chúng tôi nghe máy báo tin có bổ sung nhân số, được biết anh tên Tuyết. Tên Tuyết của anh dễ gợi nhắc đến những bóng hồng, dáng ngọc nơi tỉnh thành; nơi có em gái hậu phương yêu kiều làm ngẩn ngơ các chàng tuổi trẻ, nơi có tà áo dài tha thước quyện lấy mộng mơ. Những mộng mơ xa xưa ấy đă ở lại cùng người t́nh, từ khi đoàn xe chở các chàng tuổi trẻ chạy vào bên trong cổng số 1 của quân trường. Và rồi ngày càng xa xôi quá; mộng mơ chừng như cũng quên đường, lạc lối, không c̣n t́m về trong giấc ngủ của tuổi trẻ đă nung cháy trong chiến trận.

Đêm bây giờ chập chờn, ngắn ngủi.
Đêm của những viên đạn đồng t́m thân thể.
Đêm của máu chảy ruột mềm.
Đêm không kịp có giấc mơ, mơ một ngày được về lại …
Với … đêm trong ṿng tay học tṛ,
Với … đêm của những v́ sao t́nh tự.

Tuyết c̣n trẻ tuổi hơn chúng tôi. Chúng tôi thấy ḿnh loáng thoáng trong anh; ngày đầu mới về tŕnh diện đơn vị. Thời gian qua mau. Tuổi trẻ theo bước chân của đàn anh, trưởng thành thật nhanh chóng trong quân trường. Và rồi tuổi trẻ bổng chốc già đi, chai sạm qua chiến trận. Tuyết không trắng như tuyết, như tên anh. Nhưng sau hơn hai tuần đi phép măn khóa, màu da nhuộm nắng trên đồi Tăng Nhơn Phú của khóa sinh đă phai nhạt khá nhiều. Đứng bên chúng tôi, ngoại trừ bộ đồ trận mới toanh c̣n thẳng nếp và kiểu tóc hớt cao của thời c̣n là sinh viên trong quân trường, trông anh trắng trẻo và thư sinh lắm. Mới sáng hôm qua, Tuyết hân hoan cầm tờ giấy về phép. Một tuần về phép đặc biệt để cưới vợ, rất hiếm quư cho người lính trận mới về bổ sung cho đơn vị, và trong lúc đơn vị phải hành quân không nghỉ ngơi. Hai bàn tay Tuyết xoay xoay tờ giấy phép đă cuộn thành ống tṛn, mặt đỏ hồng bối rối v́ bị chúng tôi trêu chọc …

Tuyết cũng như các đồng đội kém may mắn của chúng tôi, anh rời đơn vị trong đau đớn tột cùng. Anh đă phải để lại một phần thân thể, với xương và thịt, của mẹ, của cha; trên mảnh đất có cái tên Gịng Trôm c̣n xa lạ với gia đ́nh từ Sài G̣n. Thứ Năm này, Tuyết sẽ được đi phép. Ngày sẽ được về phép hôn lễ của Tuyết chỉ c̣n vài ngày sau cùng, đếm được trên một bàn tay. Hạnh phúc như mộng mơ, thấy đó rồi bất chợt vỡ tan. Chúng tôi ngậm ngùi nh́n nhau, ḿnh hỏi lấy ḷng ḿnh, không biết là nên mừng cho Tuyết c̣n sống, hay là … cái chết biết đâu sẽ giúp anh thanh thoát nhẹ nhàng hơn. Chứng kiến nước mắt người thân yêu đến đơn vị, nhận lại kỷ vật của đồng đội bất hạnh thật là xót đau, nát rát trong ḷng. Niềm đau tột cùng, khi cuộc chiến chưa tàn, người lính chiến phải bỏ cuộc với một h́nh hài không c̣n nguyên vẹn. Chiến tranh nào cũng lắm khắc nghiệt. Khoảng cách giữa sự sống và cái chết rất gần, ngắn hơn nhịp kim giây di động trên mặt đồng hồ. Thật ngậm ngùi khi phải rời đồng đội, trở về trên đôi nạng gỗ, dang dở cuộc đời của cả người thân yêu. Khi đó, tiếng đạn xé không trung nơi chiến trường, có lẽ … không đáng sợ bằng khoảnh khắc nh́n nhau xa lạ, nh́n nhau ánh mắt chưa quen!

Có phải chăng, là người lính trận như thế này, đừng kết vướng thêm t́nh cảm, th́ chắc là … sẽ ít đau đớn cho ḿnh và … cho người khác!

Đơn vị không có hậu cứ, nên phải di chuyển thường xuyên; mỗi ngày một chỗ dừng quân khác nhau. Các chấm đỏ ghi dấu địa điểm hành quân trên bản đồ cứ liên tục hiện ra, nối nhau bất tận. Bước chân người lính bộ binh cứ đi măi; đi đến bao giờ mới hết đất bờ, sông rạch. Như các đồng đội đă rời đơn vị về nằm trong ḷng đất mẹ hay vào bệnh viện trước đây; không ai đi thăm viếng Tuyết được và chúng tôi mất tin tức nhau từ đó.

Nhà thơ Thái Tú Hạp sau khi ra khỏi trại tù “cải tạo”, t́m thăm người bạn là thương binh. Trên bến sông Hàn, Đà Nẵng, buổi chiều gặp nhau trước ngày chia tay. Hai chiến hữu, cùng mang vết thương không bao giờ lành được, trên thể xác và trong tâm hồn. Cả hai không ngờ, đó lại là lần gặp nhau cuối cùng. Uống với nhau men rượu cay đắng và rồi vĩnh viễn mất nhau. Thái Tú Hạp được đi theo diện HO. Người bạn thương binh phải ở lại, chết dần v́ nghèo đói, bệnh tật. Bài thơ ghi trọn câu chuyện từ biệt của chiến hữu, được nhạc sĩ Anh Bằng thu gọn lời để phổ nhạc; ca khúc có cùng tựa với bài thơ Người Thương Binh của thi sĩ Thái Tú Hạp, với lời nhạc như sau:

Rượu uống mềm môi bao chiều rồi
Chỉ thấy gịng sông đỏ ráng trời
Chỉ thấy ḷng ta mưa, mưa măi
Sóng sầu nghiêng ngả mảnh hồn trôi
Bạn cứ đi, xin đừng lưu luyến
Là thương binh ta sống khổ đă thành quen
Như mănh thú khép ḿnh trong phố nhỏ
Đốt hết cuộc đời nghiệt ngă đau thương
Bao lần bên gịng sông soi mặt
Thoáng nhớ mây trời đỉnh Chu Phong
An Lộc - Khe Sanh - Đèo Lao Bảo
Tử sinh ta thấy nhẹ như không
Chia với cỏ cây nỗi niềm tri kỷ
Nhân gian chừng như đă lăng quên ta
Rượu uống bên gịng sông tủi nhục
Buồn hát một ḿnh bài Quốc Ca năm xưa!


Người bạn thương binh của thi sĩ Thái Tú Hạp nói như c̣n niềm tin, để bạn ḿnh yên tâm ra đi:

“Bạn cứ đi … Ta một ḿnh. Sống được với quê hương”

Thế nhưng,… quê hương ấy đă không c̣n!

Quê hương miền Nam của người thương binh, đă mất từ buổi sáng 30 tháng 4 năm 1975. Tượng đài Tiếc Thương c̣n bị kéo ngả gục, không chút thương tiếc. Nghĩa trang của chiến hữu ḿnh bị hủy diệt, thay tên. Nơi yên nghỉ ngh́n thu của đồng đội, bia mộ bị tàn phá bằng những viên đạn thù hận, đê hèn. Người đă chết c̣n không được yên nghỉ, th́ người c̣n sống và là thương binh th́ phải trăm đắng ngh́n cay để mà: “Ta một ḿnh. Sống được với quê hương”. Thương binh của quân đội Việt Nam Cộng Ḥa bị chế độ mới cướp đoạt các căn nhà đă được chính phủ cấp dưỡng. Xót xa nào hơn khi đă phải chứng kiến những người lính với vết thương c̣n đang cần được điều trị; bất kể t́nh trạng thương tích ra sao, họ vẫn bị xua đuổi ra khỏi bệnh viện.

"Xin một lần nữa, một lần nữa, vẫy tay chào buồn anh đi!”

Làn hơi của một người đă cao tuổi, lại thêm kém sức khỏe, không c̣n đủ cho người bán vé số ngân dài hay hát cao giọng đúng theo dấu nhạc. Anh đàn thêm những nốt nhạc cuối và nói lời cám ơn kèm theo nụ cười thân thiện. Mượn tiếng đàn và hát thay lời chào thiện cảm. Người đàn ông gầy ốm, xoay cây đàn lên lưng, tay chống nạn khấp khễnh len giữa các bàn ăn, tay đưa sấp giấy số và nhỏ nhẹ mời. Các dăy bàn đặt san sát nhau bên ngoài nhà hàng, đều đầy kín người ngồi ăn. Hầu hết, người ta chú tâm vào cuộc vui riêng; tránh né các tờ giấy số trên bàn tay gầy guộc và ánh mắt khẩn khoản của người bán. Rồi cũng có người gọi mua và thân mật thăm hỏi. Anh dừng bước, gác đoạn chân bị cắt cụt đến đầu gối lên nạng, cho bàn tay được nghỉ ngơi và trả lời thăm hỏi của người thu h́nh cho chương tŕnh Sài G̣n Ngày Nay. Anh nói cho biết: ḿnh năm nay 69 tuổi, quê ở Khánh Ḥa.

Người phỏng vấn ngạc nhiên, v́ quê anh ở tận Khánh Ḥa, vào đây để bán vé số, hỏi lại:

- Khánh Ḥa à! … Chân chú bị sao…?

Anh đáp lời:

- Năm 72 chú dự trận … “Mùa hè đỏ lửa” … trận Pleime, tại Pleiku…

- Dạ … chú đây là … thương phế binh à?

- Tôi là thương phế binh!

Người dân của Sài G̣n trước đây, và cả những người từ miền Bắc mới vào miền Nam sau năm 75, đều không c̣n xa lạ hay ngạc nhiên khi gặp những người thương binh miền Nam, sinh sống bằng nghề bán vé số như anh. Người phỏng vấn không ngạc nhiên cho lắm; chỉ lập lại chữ “thương phế binh” để làm một câu hỏi, không v́ ngạc nhiên:

- Thương phế binh a… ?

Anh thương binh hiểu ư, mĩm cười tiếp lời ngay:

- Việt Nam Cộng Ḥa!

Rồi anh cho biết về số quân của ḿnh là 72/408849 và các vị chỉ huy của đơn vị anh trước đây.

Số quân khởi đầu với 72, như vậy anh sinh năm 1952, cùng năm sinh với bạn tôi, Chuẩn Úy Tuyết. Tuyết cũng bị thương và bỏ lại nơi chiến trường một đoạn chân phải như anh. Anh cho biết, nếu bán hết 200 tờ vé số của đại lư giao th́ được 200 ngàn đồng.

200 ngàn đồng, tiền Việt Nam bây giờ đấy!

Nhiều món ăn trên các bàn quanh anh có giá đến 150 ngàn đồng cho một dĩa, và có món ăn c̣n mắc tiền hơn thế!

“Là thương binh ta sống khổ đă thành quen!
Như mănh thú khép ḿnh trong phố nhỏ,
Đốt hết cuộc đời nghiệt ngă đau thương”

Người thương binh chấp nhận cuộc đời nghiệt ngă đau thương của ḿnh; anh vui vẻ mời các khách trẻ trong nhà hàng, nghe một bản nhạc do ḿnh đàn hát, anh nói:

- Bản nhạc này … chú hát lên để nhớ lại những kỷ niệm xa xưa, trong cuộc đời thanh niên của chú … đó là những người lính ngoài chiến trường của miền Nam này… để bảo vệ phần đất Việt Nam tự do …

Anh dạo nhạc rồi nói lời dẫn vào ca khúc: Tôi là một người lính bộ binh, của Việt Nam Cộng Ḥa, 21 tuổi đời, ba tháng quân trường, 4 năm chinh chiến, chưa lập gia đ́nh, mới có t́nh yêu,... Tôi xin trả lời cho những người hay hỏi: “tại sao tôi yêu cuộc chiến như yêu chính bản thân ḿnh?!” … và để giúp vui hết cho các em cháu với bản nhạc Biển Mặn của Trần Thiện Thanh!

Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh viết ca khúc Biển Mặn như lời tâm t́nh của ḿnh và của tuổi trẻ khoác áo chiến binh. Trong không gian nhà hàng, người ta ăn uống chuyện tṛ ồn ào, có tiếng đàn và tiếng hát của người thương binh Việt Nam Cộng Ḥa. Và anh đă không đơn độc; đêm nay, có tuổi trẻ quanh anh cất lời cùng hát với anh…

Hôm nay đây, người lính Việt Nam Cộng Ḥa vẫn c̣n sống măi trong ḷng dân tộc!

Trên thành phố cùng những con đường quen thuộc đă bị mất tên, và phải mang các thứ tên xa lạ; chống chiếc nạn gỗ, đứng giữa đám đông, người thương binh vẫn can trường; anh không dấu nét tự hào khi nhận ḿnh là: “người lính bộ binh của Việt Nam Cộng Ḥa,.. là người lính ngoài chiến trường của miền Nam này,… anh đă chiến đấu để bảo vệ phần đất Việt Nam tự do”!

“Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi?”
Xưa nay chinh chiến có mấy ai trở về!

Có lẽ, có làm người lính trong chiến trận, mới thấu hiểu tận cùng cho đời lính lắm nghiệt ngă đoạn trường. Xót xa đau cho người c̣n ở lại, cùng mảnh đời bất hạnh của người thương binh; trong cuộc sống phũ phàng của chế độ khắc nghiệt hiện nay!
Bạn bè tôi!

Chiến hữu của tôi!

Xin chào người vị quốc vong thân!

 Xin chào người c̣n ở lại, chịu khổ nhục với đời thương binh!

“Người Thương Binh Việt Nam ! Non sông nợ ơn người.
Người Thương Binh Việt Nam ! Tổ Quốc nhớ công anh.
Người Thương Binh Việt Nam ! chúng tôi vẫn nhớ người.
Người Thương Binh Việt Nam ! Giữa quê người tôi vẫn nhớ anh.”

Bùi Đức Tính
 

https://youtu.be/Xo3FQSrzvB4
 

 

 

 


VĂN CHƯƠNG

2020
2018-2019
2017
2016
2015
2014
2013 
2012

Truyện Ngắn

Hồi ức - Một thời chinh chiến 
No Easy Day - Ngày Vất Vả


Sự tích bài thơ "Trèo lên cây bưởi hái hoa"
Thằng gà chết
Năm Gà Mổ
Tay muốn chạm tay
Pleiku, thơ và thi nhân
Tính trước  
Trận Pleime năm 1974
Không quên người chiền sĩ QLVNCH
Áo học tṛ và áo trận
Lê Bá Định, vị NT Không Quân khả kính  
Động cơ T53-L-13 của trực thăng UH-1  
Câu chuyện ‘Áo Lụa Hà Đông’  
Một thời vang bóng  
Khép một vầng trăng  
Sứ mệnh văn hóa  
Một cơn ác mộng  
T́nh yêu giữa tôi và nàng tiên  
Người tù đi gánh củi
Chuyến vượt biên của tôi
BV B́nh Dân những ngày khói lửa tháng 4-1975
Tưởng chừng đă quên
30 tháng 4 năm 1975 chị ở đâu?
Hào kiệt phương Nam - HQ Tr/Ta Ha Ngoc Lương
Hai người lính Dù
Tưởng niệm tháng tư đen lần thứ 46!
Một cơn ác mộng
T́nh yêu giữa tôi và nàng tiên  
Hồi kư "Dang Dở"  
Sự trả thù đê hèn và dă man của VC
Về Thăm quê cũ  
Buổi điểm danh cuối cùng  
Mai vẫn nở trên điêu tàn của Huế
Thằng "Nước Mắm"
Những mảng màu khô
Chữ nghĩa bây giờ
Xuất xứ những bài nhạc Việt vang bóng...  
Thiên lư tương ngộ  
Một cái Tết khó quên  
Tản mạn về “Trâu” qua Ca Dao VN  
Thăm lại đồi Charlie: Nghe người đi, linh hồn ở lại  
Đêm xuân nào tôi đến thăm anh
Sóng bạc đầu
Viết về Trâu  
Phi vụ tàu phép  
Tâm t́nh của một người trẻ...  
Trong cơn lốc đời  
Mỹ nhân và danh tướng  
Như một gịng sông  
Môt chuyến đi Hawaii  
Chuyện t́nh đẫm lệ thời chinh chiến  
Ba bỏ mẹ con đi rồi
Lăng kính dân tộc tôi...
Môt chuyến đi Hawaii  
Chuyện t́nh đẫm lệ thời chinh chiến  
Ba bỏ mẹ con đi rồi