Trong Nỗi Khốn Cùng 

 
Sau đây là câu chuyện điển h́nh về Nỗi Thống Khổ Bi Hùng mà Người Lính  VNCH hằng gánh chịu sau ngày mất nước với ḷng can đảm bền bỉ tuyệt đối của người luôn vững tin về Chính Nghĩa của Quân/Dân Miền Nam cũng như của toàn Dân Tộc Việt Nam.

Nguyễn Thế Thăng

Suốt cuộc đời tôi trên mảnh đất quê hương bất hạnh, có lẽ mùa Đông 1975 là một cái đông lạnh lẽo nhất. Không biết có phải v́ miền Nam Việt Nam vừa trải qua một cuộc đổi đời khủng khiếp, hay v́ lúc ấy tôi đang bị cùm tại Trại A9/Long Thành, Biên Ḥa (ngă Ba Thái Lan) trong một dăy nhà tôn vách gỗ mà không hề có lấy một tấm mền mỏng che thân! Ban ngày ngủ, ban đêm phải thức trắng ngồi xoa bóp liên tục khắp cả người cho ấm. Ôi đêm dài vô tận trong cái lạnh thấu xương cộng thêm vết thương trên người c̣n tươi máu. Chính từ chuỗi ngày đêm nơi tầng cuối địa ngục này lại trở thành một phước duyên cho tôi tập tễnh bước vào Thiền để sống sót và tồn tại đến ngày nay.

Trước và sau ngày 30/4/75 tôi đă không hề có ư định chạy ra nước ngoài. Khoảng đầu tháng 6/75, tôi lên Trà Cổ (Hố Nai, Biên Ḥa) rồi từ đó vào rừng gia nhập Liên Đoàn 5 của Đại Úy Lê Đ́nh Thạch (trước đây thuộc Sư Đoàn 5/BB) gồm một số Biệt Kích Dù, Biệt Động, Cảnh Sát, Địa Phương Quân.... Chúng tôi sống trong các mật khu cũ của Việt cộng vùng Sông Buông, Sông Mây (đầu Chiến Khu D). Việt cộng tràn ra thành phố, bỏ ngơ mật khu của họ lại với đầy đủ cḥi, lán, vọng gác trên cây, bếp với nồi niêu xoong chảo, nương khoai, vườn rau và một số rất lớn lựu đạn chày chỉ c̣n được dùng để đánh cá v́ hệ thống kích hỏa bị hư đến hơn 60%. Chúng tôi thường tấn công những kho gạo Tân B́nh, Tân Bắc, Trà Cổ... Trước khi vác gạo về mật khu, chúng tôi dọn sạch kho đem bỏ từng bao trước cửa mỗi nhà dân. Dân địa phương và gia đ́nh cũng tiếp tế cho chúng tôi rất nhiều thực phẩm khác. Vũ khí cũ như M16, M79 dần dần hết đạn, chúng tôi phải đánh Việt cộng để lấy AK, B40...

Đến khoảng tháng 9/75, lực lượng chúng tôi đă có khoảng 80 người. Biết không thể chống cự nổi bọn cộng sản đang say men chiến thắng, chúng tôi dự trù sẽ đi đường bộ băng ngang Kampuchia đến vùng biên giới Kampuchia -Thái Lan để dưỡng quân rồi tùy cơ ứng biến. Trong vùng c̣n có một toán thuộc Liên Đoàn Biệt Cách 81 (trước 30/4/75) hoạt động độc lập dưới sự chỉ huy của một người tên Ẉng A Cẩu. Chúng tôi cũng đang liên lạc để sát nhập với một lực lượng khác do Thiếu Tá Tam (Thiếu Tá Nguyễn Phước Trường) chỉ huy. Có một linh mục tham gia tên Trần Học Hiệu (LM Hiệu sau này đă bị giết chết trong tù). Khoảng tháng 10/75, VC đưa hai trung đoàn có bốn chiến xa yểm trợ tấn công đơn vị chúng tôi và đơn vị của Thiếu Tá Tam. Chúng tôi trải quân ra thật rộng với từng tổ tam tam chế, đóng chốt trên tất cả những yếu điểm, kể cả những cḥi trên ngọn cây, b́nh tĩnh sử dụng thật tiết kiệm từng viên đạn một. Chiến đấu trong hơn bốn ngày đêm, chúng tôi đă mất hơn nửa quân số. Sau khi Anh Thạch hy sinh, chúng tôi phải xé lẻ tan hàng. Ba người theo tôi đi về Phước Long. Đến 10g sáng (?),chúng tôi lọt ổ phục kích gần Xă Vĩnh Cửu (?),một trung đội cộng sản nằm dài theo bụi tre cách khoảng mười-lăm, hai-mươi thước bắn xối xả vào chúng tôi đang di chuyển giữa đồng trống, quần áo tôi bị thủng nhiều lỗ, một viên AK xuyên qua đầu gối (đang ở thế ngồi chồm hổm để bắn lại) làm tôi ngă vật ra sau nhưng vẫn tiếp tục bắn đồng thời ra lệnh ba thuộc cấp thoát thân. Chuẩn Úy Nguyễn Thạch Điệp nhất định liều chết để lôi tôi đi... Tôi hét lên, Điệp vẫn không buông tôi ra, tôi phải chĩa súng vào người Điệp gằn giọng nếu không chạy đi, tôi phải bắn chú, Điệp rớm nước mắt “dạ” rồi vọt liền, cùng lúc với đợt xung phong xáp lá cà của địch, một tên dùng nguyên khẩu súng với trái đạn B40 đập lên đầu tôi, tôi né qua một bên, bị trúng vào gáy rồi ngất đi. H́nh như một tên chỉa AK vào đầu tôi định bóp c̣, một tên khác la lên... "Đừng bắn, thằng này cấp cao, tài liệu sống, đem nó về." Lúc tỉnh dậy thấy ḿnh đang nằm trên vơng vải nylon, máu me ướt sũng lưng, bọn VC thay nhau khiêng tôi đi. Ngang qua một số dân địa phương đang làm rẫy, tôi thoáng nghe vài tiếng kêu... Giê-Su Ma!!.

Toán cộng sản đưa tôi về huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai (Biên Ḥa), nhốt tôi trong một căn nhà không có nóc (bị pháo kích sập, chỉ c̣n bốn bức tường với các cửa đóng kín bằng những tấm ván lớn chéo nhau). Tôi được đặt trên một bao tải cũ, gối đầu trên một cục gạch thẻ, trên người chỉ c̣n một quần lót dính đầy máu đă khô, đầu gối được bó lại bằng chính cái áo trận của tôi. Đêm đó trời mưa như trút, cả người tôi ướt như chuột nằm chịu trận suốt mấy giờ.Vết thương đau nhức khủng khiếp, máu vẫn tiếp tục loang loang theo nước mưa. Sau cùng v́ quá lạnh, sức đă kiệt, tôi lên tiếng kêu gọi bộ đội xin chuyển tôi đi nơi khác, không nghe tiếng trả lời, tôi ráng lết vào sát chân tường để núp. Nếu lúc đó cửa có mở tôi cũng không thể trốn đi v́ đầu gối chân phải đă bị bắn xuyên từ bên này sang bên kia, xương bánh chè bị vỡ nát. Bị bắt tại trận với vũ khí trên tay thế này chắc chắn 100% là chết, nếu lỡ sau này có sống sót, có lành cũng thành phế nhân, tôi đành quyết định chọn con đường tự sát. Ráng đập đầu vào tường nhưng sức không c̣n. Thử cắn lưỡi th́ thú thật đau quá, không đủ can đảm. Có lẽ phải nhờ Việt cộng giết giùm thôi. Tôi bắt đầu la lên chửi rủa cộng sản, chửi đích danh Hồ Chí Minh khan cả tiếng. Tôi tiếp tục chửi tất cả những tên đầu năo cộng sản lúc bấy giờ mà tôi nhớ được như.... Lê Duẫn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng, Lê Đức Thọ... Rồi không biết ngất đi từ lúc nào. Khi tỉnh dậy toàn thân tê tái, tê như đóng băng, đầu vẫn gối trên cục gạch, thân vẫn nằm trên cái bao tải ướt sũng, trên người gần như trần truồng được đắp lại bằng.... một tấm tôn! Ngoài kia gió vẫn rít gào, trời vẫn vô t́nh mưa rả rích, nước mưa vẫn gơ nhịp đều đặn trên tấm tôn lạnh lùng...

Sáng hôm sau Việt cộng triệu tập một cuộc mít-tinh dân chúng huyện Thống Nhất để triển lăm mục đích răn đe với khoảng hơn bốn mươi xác những “tên ác ôn đă đền tội”. Mười một người bị bắt (tất cả đều bị thương), số c̣n lại trốn thoát. Chúng khiêng tôi ra đặt nằm phía sau một chiếc xe Jeep mui trần cho bà con xem. Rất nhiều tiếng đả đảo từ những tay c̣ mồi. Không ít những giọt nước mắt nghẹn ngào. Vẫn vỏn vẹn một chiếc quần lót đẫm máu, tôi ngồi thẳng người, b́nh tĩnh nhếch mép cười khi nghe những tiếng hô đ̣i tử h́nh kẻ “tội phạm”. Lúc đó đối với tôi hai tiếng “tử h́nh” nghe không c̣n ghê rợn nữa mà thật b́nh thường v́ đó chính là điều tôi mong đợi và chấp nhận như một ṣng phẳng tất nhiên. Một cô trung niên, mặt khá xinh, người nhỏ nhắn, có vẻ rất hung hăng, vừa xô đẩy những bộ đội giữ trật tự, vừa hô to: Đả đảo những tên “xâm lăng” (?) khốn nạn, ḥa b́nh không muốn chỉ muốn chiến tranh, những tên mặt người dạ thú, giả nhân giả nghĩa, giết hại dân lành... Hăy để cho tôi nhổ vào mặt nó, đập vào mặt nó, tôi mới hả dạ!” Tôi nghĩ mụ này là “Việt cộng cái” giả dạng thôi, ḷng tôi thanh thản đến lạ lùng. Hăy để chúng trổ tài bịp bợm. Tôi chỉ muốn thoát ra khỏi cơi đời ô trọc bằng bất cứ giá nào, bằng bất cứ cách nào, dù xấu nhất. Tôi mỉm cười nh́n thẳng vào mắt mụ khi mụ vung nắm đấm. Mụ không nhổ vào mặt tôi. Mụ cũng không đập vào mặt tôi. Mụ luồn tay vào bụng tôi làm như đấm tôi vậy, miệng vẫn tiếp tục chửi rủa. Tôi cảm thấy cái ǵ đó nằng nặng trên bụng, liếc nhanh, th́ ra đó là một quả quít nhỏ, tôi vội lấy tay che lại, nụ cười thành trơ trẽn biến mất, nhường chỗ cho sự ngạc nhiên đầy lư thú và cảm thông rất nhanh. Đôi mắt diễn viên trong một thoáng lạc đi rồi trở lại ngay với vở kịch c̣n dang dở! Cô ấy trạc tuổi tôi hoặc nhỏ hơn chút ít. Đến bây giờ, tôi vẫn hằng ước mong có được một dịp tái ngộ người ân nhân tuyệt vời này - Không phải v́ đơn thuần quả quít mà v́ giá trị khích lệ trong một hoàn cảnh quá hi hữu.

Những ngày và đêm tiếp theo là thủ tục hỏi cung. Bộ đội chánh quy từ miền Bắc tương đối nhẹ tay, một vài người nói và làm như miễn cưỡng, một người đă lén pha cho tôi một ly sữa sau lần tôi bị ngất đi vài giờ, nhưng những tay “giải phóng - Cộng sản người miền Nam” th́ thật tàn bạo... Chính nơi đây tôi đă được nh́n thấy thế giới bên kia sau những lần chết đi, có lần kéo dài đến sáu, bảy tiếng... Tôi đă nhẹ nhàng thanh thoát, lướt bay trên những cánh đồng đầy hoa, không một chút bụi. Không cảm giác áo quần mặc trên ḿnh dù rằng quần áo rất đẹp, không tơ lụa nào sánh bằng, h́nh như kết bằng mây ngũ sắc. Cả không gian thật tươi mát, thật sạch như vừa trải qua một cơn mưa nhẹ. Bầu trời không một áng mây, không có mặt trời nhưng lại rất sáng và trong suốt như pha lê. Tôi đă nhớ lại từng chi tiết nhỏ cả quăng đời đă qua từ khi nhập thế. Những điểm tốt cùng với bao nhiêu điều xấu. Vui vẻ, hài ḷng, thảnh thơi trước những việc thiện. Hối hận, ăn năn, dằn vặt, đau khổ trước những điều bất thiện. Có lẽ đó là “Ṭa Phán Xét” theo giáo lư đạo Thiên Chúa. Có thể đó chính là Niết Bàn và Địa Ngục theo Phật Giáo chăng? Tôi đă nghe và hiểu những con chim đang hót những lời tán tỉnh. Tôi đă thấy những con cá giành ăn và nghe chúng căi nhau. Chính nhờ vậy tôi lại càng không sợ chết nữa, trái lại c̣n mong muốn được ra đi thật sớm... Tôi như tỉnh ngộ và nhận rơ rằng cái xác này tuyệt nhiên không phải là tôi. Nó chỉ là một phương tiện, một địa chỉ tạm trú của một trong vô lượng vô số kiếp mà thôi. Quá đủ rồi. Tôi đă thoát ra và ngắm nh́n cái xác này bất động. Mấy lần đầu, tôi nghĩ đó chỉ là những giấc mơ.

Sau vài lần lập đi lập lại thành xác tín, thành khẳng định những ǵ bên kia cửa tử, tôi khẩn khoản một cách chân t́nh, một cách rất b́nh thản: Các anh thấy tôi đă chết nhiều lần, tôi đă được qua thế giới bên kia, đẹp lắm, b́nh yên lắm, tôi thề sẽ không bao giờ oán hận các anh, tôi hứa sẽ mang ơn nếu các anh cho tôi một viên đạn vào đầu để tôi được đi luôn, không phải trở lại cơi đời này. Thật bất ngờ, kể từ hôm đó, họ không hề đụng chạm đến tôi nữa. Một lần, một tay cán bộ bắt tôi nhận diện những đồng ngũ đă hy sinh qua những tấm h́nh chụp trắng đen. Anh Thạch nằm chết bên cạnh khẩu M60 không c̣n một viên đạn. Mắt anh một nhắm, một mở. Miệng anh như mỉm cười. Tôi lặng người, nước mắt lưng tṛng. Tay cán bộ giả vờ nh́n đi chỗ khác. Tôi cố t́nh t́m nhưng không nh́n thấy xác Chuẩn Úy Vũ Thế Cường, là anh họ của tôi (anh ruột mẹ tôi là Vũ Thế Nghiệp tức nhà báo Thần Phong hai năm sau đó bị xử bắn tại Thủ Đức). Vĩnh biệt các anh và hẹn ngày gặp lại, tôi khẽ th́ thầm.

Quay trở về mùa Đông 1975 tại Trại A9 Long Thành. Trại nằm ngay tại Ngă Ba Thái Lan gồm nhiều dăy nhà tôn vách ván nơi đang tập trung học tập các cựu viên chức hành chánh VNCH. Chúng tôi khoảng năm-mươi người gồm nhiều thành phần bị nhốt trong dăy nhà ngang cuối cùng có hàng rào kẽm gai quây kín. Tất cả tù nhân bị cùm hai chân, xiềng một tay vào ban đêm, ban ngày chỉ xiềng một tay vào một chân. Cùng trại có một người lớn tuổi tên là Phan Xuân Hạ, bị bắt v́ nghi ngờ là sĩ quan cao cấp VNCH đang trốn tránh. Cụ rất hiên ngang, dơng dạc. Nghe cái tên quen quen, tôi hỏi cụ có liên hệ ǵ với với một người bạn cùng khóa là Phan Xuân Mai không. Cụ chỉ mỉm cười: Con cháu trong nhà thôi. Bà Minh Đăng (Không biết tên thật, chủ đại bài gạo Minh Đăng, Biên Ḥa) người phụ nữ duy nhất bị bắt v́ tiếp tế nguyên một xe gạo vào rừng, đă dùng sợi dây xích làm xâu chuỗi, không biết bà đă đọc bao nhiêu kinh mà sợi xích sáng bóng như thép ṛng vậy. Nguyễn Văn Chi, người bị đánh hội đồng nhiều nhất trong suốt hơn hai tháng v́ bị nghi ngờ là Thiếu Úy Trần Văn Chi (Th/Úy Chi bị một viên đạn xuyên qua vai phải, trốn thoát, hiện đang ở San Jose - California), Ngô Đ́nh Chiến bị bắn xuyên qua bả vai trái, tay trái bị liệt. Nguyễn Văn Cân bị ghẻ toàn thân chỉ trừ hai con mắt, Nguyễn Y - người B́nh Định (trông giống hệt h́nh Quang Trung Đại Đế), Trịnh Văn Thương bị bắn xuyên qua đùi, Phạm Văn Thận với chiếc jacket với hàng chục lỗ đạn.... 

Cũng trong trại này có một người lính cũ của tôi, Đào Văn Lành, không biết bị bắt bao giờ và về tội ǵ. Anh được làm trong nhà bếp, phụ giúp nấu cơm cho trại. Một lần đem cơm cho tù nhân, anh nhận ra tôi nhưng không dám nói, chỉ ra hiệu. Tôi th́ vẫn... muôn đời Lục Quân Việt Nam, cứ bô lô ba la, cứ vui trước đă, đằng nào cũng chết, vui ngay cả với tử thần như một thân hữu đang đợi trông. Cơm ngày hai bữa trưa và chiều, mỗi người được hơn một chén cơm với “thịt cọp”. Thịt cọp có nghĩa là muối hột, khi nhai kêu cọp cọp. Tôi chỉ ăn một nửa muối, phần c̣n lại dùng pha nước để tự rửa vết thương. Thỉnh thoảng được một chút canh nấu bằng lá cải già hay bí rợ với muối. Một hôm Lành lén trao cho tôi một lon sữa ḅ trong đó có phân nửa chất nước đen đen, quẹo quẹo mà Lành nói là nước cá kho. Chao ơi, nó ngon làm sao. Mỗi bữa ăn, tôi chỉ dám chan một muỗng cà phê trên chén cơm hẩm mà tưởng như đang thưởng thức món cá cao lâu ngày nào. Khoảng hơn mười ngày sau, khi vắng bóng người, Lành hỏi nhỏ: Nước cá kho tôi cho ông có ngon không? Cám ơn Lành, đang thiếu thốn mà được như thế không ǵ so sánh bằng. Lành thật thà: Ông biết không, tụi nó kêu tôi rửa cá khô, nguyên cả kư lô cá khô tôi rửa bằng một tô nước thôi, nước đó tôi cô lại c̣n nửa lon cho ông xài đỡ. Ráng sống, ráng nhịn cho qua nghe ông!

 

alt

Rồi cũng qua một mùa Đông. một mùa Đông tang thương, thê lương trên khắp nẻo đường đất nước. Cả miền Nam biến thành một trại tù khổng lồ. Bốn tháng sau tôi bị chuyển về giam tại xă Ngăi Giao, quận Đức Thạnh (Phước Tuy / Bà Rịa). Chỉ cùm hai chân ban đêm nhưng ban ngày vẫn phải đeo xiềng vô một chân để đi lao động (mục đích giữ tù không chạy trốn). Từng đoàn tù với xiềng xích kêu loảng xoảng trên đoạn đường gần làng B́nh Giả, tôi lẩm bẩm hát bài Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ (Nguyễn Đức Quang) thật thấm thía: “...Ta khua xích kêu vang dậy trước mặt mọi người, nụ cười muôn đời là một nụ cười không tươi. Nụ cười xa vời, nụ cười của ḷng hờn sôi. Bước tiến ta tràn tới tung xiềng vào mặt nhân gian!” Trung Úy Nguyễn Văn Tài lúc nào cũng chỉ một câu vọng cổ trong Chuyện t́nh Lan và Điệp: Em tên là Nguyễn Thị Lan(g), xác c̣n nằm đó mà hồn tan(g) lâu rồi!! Ở đây tuy ấm hơn nhưng rất khó ngủ v́ hàng sư đoàn rệp tấn công suốt đêm. Cũng tại nơi này, hai thằng em tôi là Đồng Quang Nhường và Nguyễn Văn Hiển bị đánh chết. Hai em trốn trại bị bắt lại. Chúng trói hai tay hai chân rồi treo lên xà nhà như đang khiêng hai con heo. Đích thân thằng trại trưởng dùng búa gỗ (một khúc cây tṛn đường kính cỡ 15cm, dài khoảng 30-40cm, đục một lỗ ở giữa tra cán vào, cán dài khoảng 1m, dùng để đập tôn cho bằng). Nó vung thẳng cánh đập một nhát vào đầu Đồng Quang Nhường nghe bộp như đập một quả dừa. Nguyễn Văn Hiển ngoái đầu qua nh́n, thuận tay nó vớt một búa ngay quai hàm của Hiển, quai hàm trẹo lặt qua một bên, máu vọt ra có ṿi. Tôi nhắm mắt lại kêu Trời!! Cố bịt miệng để khỏi la thành tiếng. Cả hai xác Nhường và Hiển co giật vài lần rồi buông thơng. Vài phút sau, chúng cắt giây thả hai xác xuống. Tôi và ba người nữa t́nh nguyện đi chôn. Cả hai xác c̣n nóng hổi được đặt nằm trên tấm gỗ dài cỡ 1 thước 8, rộng 25 phân, hai cánh tay đong đưa theo nhịp bước, nhất là theo cái cà thọt khấp khểnh chân què của tôi. Hiển máu vẫn c̣n chảy toong toong trên đường.. Cái đầu của Nhường ọp ẹp như quả cà chua úng, hai mắt lồi lên, mặt sưng tím bầm. Đất tổ ong mà dụng cụ đào chỉ là mấy cái cuốc xẻng cũ sứt sẹo. Trung Úy Tài nhỏ con nhất nhưng là người khỏe nhất, hăng hái nhất... Mấy ông ráng đào sâu sâu cho hai đứa nó. Cố gắng măi đến tận mặt trời lặn cũng chỉ đào xuống được khoảng bảy tấc!! Cả hai xác đều bị chôn nguyên trạng, không áo quan, không poncho hay chiếu bó lại. Tôi ráng gom vài mảnh báo cũ phủ mặt cho hai em. Xếp vài cục đá xung quanh đầu rồi lấp đất nhè nhẹ như sợ hai đứa đau. 

Đêm đó tôi không tài nào ngủ được. Khoảng nửa khuya, dưới ánh đèn heo hắt, tôi nh́n thấy thật rơ ràng: Nguyễn Văn Hiển đang đứng bên cửa sổ pḥng giam, không nói ǵ, đôi mắt thật buồn nh́n về xa xăm. Tôi nói thầm: Hiển ơi, thôi em hăy đi đi, đừng luyến tiếc ǵ cơi đời giả tạm này, nghiệp báo em đă trả xong, đừng oán ghét, đừng hận thù, hăy để cho ḷng thanh thản mà siêu thoát.... Tôi cứ nói như thế, lặp đi lặp lại, dỗ dành, van lơn, lâu lắm, bóng Hiển tan dần rồi biến mất. H́nh như có tiếng người trở ḿnh bên cạnh. Tôi xoay qua: Trong bóng tối mờ mờ, tôi nhận ra Đồng Quang Nhường, hai anh em như đang nằm trên một toa xe lửa, dưới lưng cái ǵ bầy hầy như phân trâu ḅ. Tôi hỏi nhỏ: Chúng nó đưa anh em ḿnh đi đâu đây? Chúng nó sẽ đưa anh ra Bắc nhưng anh đừng lo (Nhường lúc nào cũng lạc quan) mọi việc sẽ rất tốt đẹp, rồi anh sẽ vinh quang nơi xứ người. Tôi cười khẩy: Mẹ kiếp, miền Bắc chính là xứ người, không phải xứ của anh em ḿnh, nhưng cái thân tàn tật tù tội trên đất cáo Hồ th́ vinh với quang cái khỉ khô ǵ. Nhường cười. Hai anh em cùng cười với nhau. Tôi bừng tỉnh. Chơ vơ. Th́ ra đó chỉ là một ác mộng.

Mấy tháng sau tôi nhận được lệnh: Tha thụ h́nh, cho phép đi cải tạo. Tôi bị chuyển qua Trại Lê Lợi. Nơi đây tuy không bị c̣n bị cùm hay xiềng nhưng ở trong khu cách ly. Bên kia hàng rào nh́n thấy Ngô Bá Lai, Nguyễn Hữu Tạo và một số rất đông bạn bè khác, nhận ra nhau trong ánh mắt thật ngỡ ngàng, tủi nhục, chua xót, đắng cay. Ngô Bá Lai nháy mắt bảo tôi ra nhà vệ sinh, hai đứa trật quần ra ngồi bên nhau trao đổi tin tức. Lai ân cần hỏi tôi thiếu thốn ǵ không. Một tháng sau chuyển qua trại Long Giao. Tôi vào trại với hai cổ tay và cánh tay bị trói chặt ra sau lưng bằng dây điện thoại, hai chân trần với vỏn vẹn một bộ đồ trên người và một túi vải nhỏ đeo trước ngực. Phạm Văn Bông nhận tôi về tổ, trong cùng tổ có Trần Ngọc Hoàn; cùng đội, cùng trại có Nguyễn Quyết Thắng, Nguyễn Nhự, Chung Gia Phong, Bùi Đức Hùng, Nguyễn Thành An, Đặng Kim Cương, Trương Hội, Phạm Đức Thịnh... Trại bên có Nguyễn Đức Phương. Bạn bè chia sẻ cho tôi thật nhiều đồ dùng và thực phẩm. Phạm Tuế tặng tôi một chiếc quần treillis c̣n khá mới.

Ngày 23/5/1977, chuyển ra miền Bắc trên chuyến tàu sông Hương. Nằm trong toa xe lửa trên đoạn đường từ Hải Pḥng lên bến phà sông Hồng với toàn phân trâu phân ḅ, tôi cứ măi miên man nghĩ về từng chiến hữu trong chiến khu, nghĩ thương hai thằng em bị thảm sát trong tù, về thân phận ḿnh, về dân tộc và quê hương cơn quốc nạn. Đôi mắt cay cay nhiều xót xa.........

Người lính Nguyễn Thế Thăng

 

 


VĂN CHƯƠNG

2017
2016
2015
2014
2013 
2012

Truyện Ngắn

Hồi ức - Một thời chinh chiến 
No Easy Day - Ngày Vất Vả

Những bài viết của Bất Khuất


Chiều ra biển  
Những đứa con đẽ muộn  
Một thời kỷ niệm  
Băi tập
Bước chân Việt Nam
Người lính già
Để nhớ
Đi buôn  
Ngày anh đi  
Kỷ niệm xưa
Rồi tết lại đến
Bài thánh ca buồn
Tears of pride  
We remember
Con chim biển
Vui - Buồn … Ngày hội ngộ 44 năm khoá 8B+C/72  
Mùa hè đỏ lửa  
Dư âm ngày hội ngộ 44 năm tại California  
Có chuyến bay  
Lời ca
Quỳnh Hương diển tích
Để nhớ để quên
Cờ ḿnh!
Khắc chữ Tự Do
Mai cai hạ  
Củ khoai ḿ
Khinh Binh 344
Tết


Mùa xuân xứ người, mùa quốc nạn xứ ta  
Tôi viết cho anh hùng Lư Tống  
Bỗng dưng anh tới  
Để nhớ một thời...  
Những ngày cuối cùng của cuộc chiến  
Trong nỗi khốn cùng   
Giờ phút cuối cùng
Quảng Trị đất đợi về  
Phụng Dực, trận đánh để đời  
Buổi họp mặt vui vẻ  
Trạm cuối cuộc đời
Nhớ nhà  
Khép lại núi rừng  
Dưới bóng mát của lá cờ "Ba Que"  
Nhức nhối con tim  
Trái tim cao cả  
Hạt tình hồi sinh  
Hai con khỉ già 
T́m chốn thanh b́nh
Đêm xuân Đà-Lạt  
Chuyện hai người phi công VNCH và Bắc Việt  
Đại gia ở Mỹ  
Chỉ c̣n nỗi nhớ  
T́nh huynh đệ trong một thời binh lửa
Tàn một cuôc chơi
Sự ra đời của bài hát "Thuyền Viễn Xứ"
Việt cộng: Ngụy, Ác và Hèn Hạ!  
Phi vụ "Ong Chúa" 14-4653 cuối cùng

Một cái Tết khó quên  
Tr/Tá Lê Văn Ngôn trấn thủ Tống Lê Chân như thế nào?  
Vơ Ân và tôi  
Người thiếu phụ ôm cốt chồng ...
Cựu DB Lý Quý Chung, một người khách đặc biệt  
Hạnh Phúc… Rơi  
Bông Mồng Gà  
Rồi người lính có về không?  
Tạ ơn Thiên Chúa !  
Tuổi mực tím trong thời ly loạn
Sao mà mít ướt
Những chuyện ngày xưa
Chân dung người lính VNCH
Con chuột
Cuối nẻo đường đời
Ngậm đắng nuốt cay
Những muà xuân năm cũ
Ơn đời chứa chan  
Câu truyện t́nh trong quân ngũ  
Trong lâu đài kỷ niệm  
Người nữ tù và giải Nobel  
Đùa của tạo hoá  
T́nh anh em
Họp mặt “Về Đây Anh” và Cọp Biển
Hy sinh và mờ nhạt
Âm nhạc miền Nam và những ngày xưa thân ái
Mẹ Nấm và các bà mẹ Việt Nam
Không quên những người Chiến Sĩ QLVNCH  
Con c̣n nợ ba
Cái bằng... lái xế !  
Một Trung đội Trưởng Nghĩa Quân  
Vài kỷ niệm với thầy Nguyễn Văn Trường  
Con búp bê của mẹ 
Sự c̣n mất của một người em
30 Tháng 4 và tiếng chó sủa đêm phía sau nhà
Ngụy
Tháng Tư ngậm ngùi
Người khôn "Đi học" - thằng ngu dại đời
Giờ phút cuối cùng của một đơn vị QLVNCH tại Sài G̣n
Không quên ngày Quốc Hận 30 tháng 4 – 1975
Cha Tôi, chết không cần quan tài
Cô Giáo Ngụy Người Huế  
30 tháng Tư: chuyện quên, chuyện nhớ  
40 năm (1978-2018) nhớ lại chuyến vưọt biển...  
Huế, tôi và Mậu Thân  
Hương  
1 đồng giấy, 7 đồng phở  
Vui buồn với UH1  
H́nh-tượng người LÍNH qua ḍng nhạc Việt  
Khoe chữ  
Chiếc áo bà ba In h́nh chữ Hỷ
Chiện khó tin mà có thiệt....  
Truyện hai h́nh ảnh một đời người  
Có đêm nào buồn bằng Đêm Ba mươi  
Nén hương ḷng cho một người vừa đền xong nợ nước  
Tiễn đưa nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông  
Tiếng ngáy làm tôi yên tâm
Đêm xuân nào tôi đến thăm anh  
Quê hương của tôi  
Chim trời bạt gió 
Trang nhà Hà Mỹ Nhan   
Nó và biến thiên cuộc đời

Có những mùa xuân
Chuyện người tóc bạc sớm
Trang nhà Hà Mỹ Nhan   
Các ngày tết ở VN trong năm 
Nói chuyện về con chó nhân năm Mậu Tuất 
Những người lính Dù bị lăng quên 
Gói trọn mảnh t́nh quê vào đ̣n bánh tét....  
Người đưa thư  
Danh Tướng Ngô Quang Trưởng và Tôi
Chọn tuổi xông nhà đầu năm