Người lính VNCH

Quí Mùi 1283, Mông Cổ lại xâm lăng Đại Việt lần thứ hai. Lúc đầu thế giặc rất mạnh, Thăng Long thành thất thủ, quân ta phải rút lui chỉ để lại tướng Trần B́nh Trọng ngăn giặc tại Thiên Trường. Nhưng v́ quân ít thế cô, ông đă bị Thoát Hoan bắt tại băi Đà Mặc ở khúc sông Thiên Mặc, nay thuộc làng Mạc Trù Châu,Khoái Châu tỉnh Hưng Yên. ”.
Nghe tiếng ông là bậc tài trí, thái tử nhà Nguyên đem danh lợi ra khuyến dụ nhưng Trần B́nh Trọng quyết “ Làm quỷ nước Nam, chứ không ham vương đất bắc”.

Cuối đời Trần, Hồ quư Ly cướp ngôi vua, giặc Minh lợi dụng cơ hội trên sang cưỡng chiếm Đại Việt. Cuộc chiến chống ngoại xâm lại xảy ra nhưng v́ thế lực của vua Trùng Quang quá yếu nên phải rút về cố thủ tại Hóa Châu và tạm giải hoà với giặc vào năm 1413. Điện tiền thị ngự sử Nguyễn Biểu lănh trách nhiệm gặp tướng Minh là Trương Phụ để thương thuyết. Trong trại giặc ông không quỳ lạy lại c̣n khẳng khái ăn đầu người, mắng chửi quân xâm lăng khi chúng sỉ nhục Đại Việt, nên bị giết chết.

Từ năm 1862 giặc Pháp xâm chiếm nước ta, Bernard đă đem hết toán nghĩa quân của Nguyễn Đức Huỳnh chôn sống chung trong một nấm mồ tập thể tại Côn Đảo. Cũng từ đó nơi muôn trùng gió cát, xương trắng hằng hằng,ư thu hồn Việt được nung nấu trong người chiến sĩ nơi chốn lưu đày, đă trở thành những “ Thi Ngôn Chí “ lưu danh thiên cổ cùng với các tên tuổi Nguyễn Thành, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn An Ninh và hằng vạn nhà cách mạng đầu thế kỷ XX ôm mộng lấp biển vá trời, giải thoát quê hương khỏi ṿng nô lệ. Năm 1930 VN Quốc Dân Đảng khởi nghĩa chống Pháp nhưng thất bại. Đảng Trưởng Nguyễn Thái Học cùng nhiều đồng chí sa cơ lên đoạn đầu đài. Riêng Nguyễn khắc Nhu mở lựu đan tự sát, Đổ thị Chuyên nuốt giăi yếm đào chết trong ngục.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 Miền Nam VN rơi vào tay cộng sản đệ tam quốc tế. Các tưóng lănh Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Phạm Văn Phú, Lê Nguyên Vỹ..tự sát để giữ tṛnkhí tiết và liêm sĩ của người lính VNCH.

Đây cũng chỉ là những tiêu biểu của hằng triệu tấm gương liêm sỉ trong ḍng sử Việt. 1975-2011 đă ba mươi sáu năm qua, ngoại trừ những kẻ may mắn thoát được trầm kha hệ lụy trong địa ngục xă nghĩa. C̣n hầu hết đồng bào cả nước, đều trở thành những tội đồ nô lệ cộng sản khi bị kẹt lại, nên đố có ai dám vỗ ngực nói là ḿnh đă hết nỗi hăi hùng khi vô t́nh nhớ lại một thời sống nhục. Tất cả chỉ là nói phét, nếu ai đó bảo rằng ḿnh không hề sợ hoặc ta rất anh hùng, coi thường bạo lực, c̣ng tay treo chân nằm lạnh trong cachot hay chẳng sợ chôn sống hoặc bỏ rọ ngâm tôm..
Hăy cùng đọc vài câu thơ trích trong “ Ngục Trung Nhật Kư “ mà Hồ nhận là do ḿnh sáng tạo “ Ở đời muôn sự đều cay đắng, cay đắng đâu bằng mất tự do, mỗi lời mỗi việc không tự chủ, Để chúng dắt đi tựa trâu ḅ “

Hỡi ơi “ vua bịp “ như Hồ Chí Minh khi mất tự do, cũng trở nên hèn như ai và cũng biến thành ḅ trâu mặc cho cai tù chúa ngục dẳn dắt hành hạ, th́ nói chi đến những người b́nh thường bị dồn vào cuối nẻo đường tận tuyệt. Bởi vậy chẳng ai ngạc nhiên khi biết từ Hồ tới Phạm Văn Đồng, Vơ Nguyên Giáp, Lê Duẩn, Nguyễn Chí Thanh.... đă bán đứng đồng chí của ḿnh cho thực dân Pháp để đổi lấy mạng khi bị cầm tù.

Ba mươi sáu năm qua, nơi tất cả các trại tù từ Sài G̣n tới các tỉnh, miền Nam đất bắc, đă có ai trong quân công cán cảnh miền Nam cũng như các vị lănh đạo tôn giáo, đảng phái, văn nghệ sĩ bị nêu đích danh (ngoài Bùi Đ́nh Thi) là phản bội đồng đội ? hay chỉ là thù hằn, ganh tị, nghe nói, nghe đồn, nghe ông đi qua bà đứng lại sầm x́ hoặc có trên cái loại chữ nghĩa “ không bị lương tâm đánh thuế”. Vậy th́ những ai dù có bị ở tù nhưng chưa hề bị thẩm cung,viết tự khai tự bạch hằng giờ hằng tháng, bị khủng bố đến độ phải chết trân hay tiểu đại tiện đầy quần., th́ cũng đừng quá miệng luận anh hùng, chê khen chụp mũ.

Chế độ tù lao của cọng sản quốc tế ở đâu, thời nào dù do Stalin,Putin, Mao,Giang,Kim Nhật Thành,Polpot,Fidel Castro, Hồ Chí Minh, Nông đức Mạnh.. cũng chỉ là một ḷ, một mục đích, lấy đói khiến người thành hèn,dùng hăm dọa trấn áp gây nỗi sợ hăi, tạo ác mộng kinh niên trong tâm khảm người tù, khiến họ phải cúi đầu tuân phục, làm tay sai bán đứng đồng đội.. Ở ngoài đời được tự do lại thừa mứa cơm gạo, rượu gái, mà c̣n không hiếm kẻ giết nhau để tranh ăn, đoạt vợ dành chồng, a vào chụp giựt chức tước, danh xưng, những thứ trên trời dưới biển, chỉ có trong chiêm bao và phường tuồng. Tệ hơn c̣n lường gạt tiền bạc và niềm tin của người, làm cho lư tưởng quốc gia lần nữa bị ngộ nhận và xuyên tạc. Lịch sử đă minh chứng, chỉ có kẻ anh hùng rơm mới dại tranh hơn thua cùng đám cai tù vô loại, thiếu học, để rồi chết thảm nơi lỗ chăn trâu. Lănh tụ cọng sản trăm thằng như một, hèn hạ bán đứng đồng đội để tồn tại thành cha già, tổng bí thư, uỷ viền này nọ, ngồi trên ngai vàng ăn xương uống máu đồng bào, hết lớp này tới đợt khác, ngày qua tháng lại, mà có chết ai đâu ?.

Trái lại những người chiến sĩ quốc gia trong cơn cùng khốn vấp phải lỗi nhẹ hay chỉ v́ biết nhẫn nhục trước giặc thù để bảo trọng thân xác của me cha sinh thành, hầu c̣n cơ hội sống mà phục thù rữa hận, lại bị nghe nói, nghe đồn, biếm nhẽ, khinh khi. Rốt cục chúng ta chỉ biết khai thác chúng ta, để cho kẻ thù và bọn nằm vùng lọt sổ, chỉ v́ đố kỵ hẹp ḥi, thù vặt cá nhân, nghe đồn, nghe nói từ những suy diễn a dua có ác ư, từ những cái miệng quen lép nhép cầu danh, cầu lợi.Đâu có ai thích vào tù để làm anh hùng hay được tiếng liêm sỉ v́ nơi này rẫy đầy ti tiện bẩn thỉu, nó lại không dạy cho ai một bài học cao quư nào, ngoài người tù tự học cho ḿnh những bài học làm người.

Như vậy hơn ba mươi sáu năm qua, ngoại trừ một vài con chim lạc đàn, một số kẻ bạc phước vùi thây nơi muôn trùng cát bụi, tất cả tù nhân cọng sản c̣n sống sót có bị đày đọa thể xác nhưng không ai bị tẩy năo, nhồi sọ, Họ đều xứng đáng ngẩn mặt sánh vai với bất cứ ai trong cơi đời này v́ đă làm xong trách nhiệm và bổn phận của người trai thời loạn. Bỗng dưng thấy đau ḷng trong nổi mênh mông trống vọng biển dâu, bởi con người sinh ra ai cũng phải chết. Bể khổ vô thường đời nay của người Việt, đă không c̣n là sự khổ đau vật chất, nghèo đói, tử sinh mà là sự hèn nhục mất nước về tay giặc Tàu, ách nô lệ cọng sản quốc tế trong mấy chục năm qua.Chim Thục Đế khóc đau cho nước đền nổi phải khắc khoải sầu đau, năm canh máu chảy. C̣n con người th́ cứ măi vô t́nh đi về trong cơi phù du, mặc cho hồn nước thét khóc trong nổi bể dâu năo nùng :

‘ bạn bè đến đây càng lúc càng thưa
người nằm xuống, kẻ đầy qua trại khác
ai chống lại th́ xác thân tan nát
ai bệnh đau thân xác cũng không c̣n
đem sức người đi phá núi dời non
đem mạng sống để gỡ ḿn tháo đạn
thay trời dẫn nước vào sông đă cạn
thế trâu kéo cầy phá vỡ ruộng hoang.. ’ ’

1- Hai Cảnh Tù : VNCH và Cộng Sản Hà Nội :
Hai mươi năm chinh chiến, nạn nhân lănh đủ cũng chỉ là dân và lính, là những người tuổi trẻ VN, v́ đời, v́ người và v́ liêm sỉ mà đem mạng cùi ra sa trường làm bao cát, hầm chông, lănh đạn cối tăng, dao găm mă tấu của giặc Bắc. Trong lúc đó tại hậu phương, người lính bị ghét bỏ khinh khi và tàn nhẫn hơn hết là bị đám Việt gian đâm sau lưng trí mạng. Đọc lịch sử thêm hận cuộc đời và càng thương biết bao cho quê hương lầm than tủi nhục bởi đám sâu bọ mang lớp người.

Ngày xưa lính khổ chỉ biết cười khóc riêng ḿnh nhưng khi dân khổ th́ lính khóc cho dân trên những đoạn trường máu lệ trong tết Mậu Thân, mùa hè đỏ lửa và những giây phút cuối cùng trong tháng tư đen. Ba mươi sáu năm qua những ngày tao loạn, lính đi tù lính chết, vợ con lính lầm than đen đói, thương phế binh lê lết lầm than, vậy mà chẳng thấy một ai lên tiếng v́ lương tâm để cứu giúp những hồn oan vất vưởng.

Trong lúc đó thời xa củ, biết rơ như ban ngày Việt cộng, Việt gian đang giết dân cướp nước, vậy mà cũng có sư, thầy, trí thức lên báo, thét gào, tuyệt thực, một mặt th́ áp lực chính quyền thả hết phỉ loạn, đồng lúc phóng tin khắp năm châu bêu xấu miền Nam qua những h́nh ảnh ngụy tạo lố lăng của những cái gọi là chuồng cọp Côn Sơn, chuồng voi Chí Ḥa. Thật là bất nhân vô liêm sỉ cho những trang Việt sử cận đại một thời mạt pháp, một thuở xấu lây bởi cái đám khoa bảng, học thật nhiều mà bần tiện vị kỹ, chỉ biết vinh thân ph́ gia, có giá trị lương tâm không bằng một cục phân người của xă nghĩa dùng tưới xanh đồng ruộng. Phá hoại chưa đủ, c̣n xúi Mỹ cúp hết viện trợ và quân viện để VNCH bị tiêu diệt. Nước mất th́ mất tất cả, lính và dân chỉ có cái mạng cùi vào tù và sống lênh bênh ngoài rià thế sự nhưng nhục nhất là cái đám ruồi bu trên, hết thời cơ làm trời, nổi loạn, làm giàu bất chánh, bị VC coi rẽ như bèo, ngơ ngơ ngáo ngáo, chỉ c̣n biết xa xót cho cái thuở ngụp lặn trong danh vọng làm trùm, chà đạp trên sự khổ đau của dân chúng đói nghèo..

Không biết nhà tù tại các nước tây phương và Hoa Kỳ như thế nào nhưng với lương tâm mà viết, th́ các nhà tù tại VNCH nhất là quân lao, từ chuyện ăn uống, sinh hoạt, quân phạm cũng như tù chính trị rất là thoải mái. Như vậy tại sao luôn có những cuộc gây rối trong các trại giam tù binh cọng sản ? một điều ít xăy ra tại VN sau ngày 30-4-1975.

Qua các tài liệu lịch sử được công bố cùng với những bài viết, sách vở của những quân nhân Quân Cảnh, có trách nhiệm canh giữ tại năm trại tù binh CS ở Pleiku, Qui Nhơn, Biên Ḥa,Đà Nẳng, Cần Thơ thuộc bốn vùng chiến thuật và một tổng trại ở Phú Quốc. Tất cả đặt dưới sự quản trị của Bộ Chỉ Huy Quân Cảnh.Phụ trách các trại trên là các tiểu đoàn 7,8,9 và 14 QC, ngoài ra c̣n thêm một Liên đội Quân khuyển cũng như ngành quân y làm việc trong các bệnh viện mỗi trại. Số tù binh cọng sản lúc cao điểm đă lên tới 40.000 người. Riêng mỗi trại tại các vùng chiến thuật thường giam giữ trên 5000 tù binh nhưng đông và qui mô nhất vẫn là Trung Tâm Phú Quốc.

Về những nguyên nhân khiến tù binh thường gây rối v́ chúng có chỗ dựa lưng vững như núi của “ phong trào tranh đấu đ̣i cải thiện chế độ tù ngục “ của Chân Tín, Nguyễn ngọc Lan, Trương bá Cẩn, của tờ Tin Sáng do đám dân cử cong sản Hồ ngọc Nhuận,Ngô công Đức, Lư Quư Chung chủ trương và “ Hội Phụ nữ đ̣i quyền sống “ của vợ Ngô Bá Thành nhưng quan trọng hơn hết vẫn là các cái loa của đám phản chiến tây phương và Mỹ.
Do trên chuyện tranh đấu trong tù, qua những đ̣i hỏi vô lư quá đáng, được kiếm chuyện và xảy ra như cơm bữa để những thành phần trên lấy cớ viết bài đăng báo, tố cáo chính quyền miền Nam vi phạm hiệp ước, nhân quyền, đối xử vô nhân đạo với tù binh. Cũng v́ vậy mà “ phái đoàn quốc hội “ Hoa Kỳ theo thỉnh cầu của Tổng Thống Ford, đến Sài G̣n vào ngày 24-2-1975 để duyệt xét chuẩn chi 300 triệu Mỹ kim quân viện cho VNCH. Nhưng trời ơi thay v́ tới chỗ để nh́n tận mắt cảnh điêu tàn lầm than khổ tuyệt của đồng bào trong cuộc chiến do CS Bắc Việt đang gây ra, th́ những tên dân cử dân chủ thiên cộng quyến uy lúc đó như Paul Mc Closkey, Bella Abzug, John J Flynt, Donald Flynt chỉ ra lệnh cho TT Nguyễn văn Thiệu phải để cho bọn chúng tiếp xúc công khai với Mặt Trận Ma (GPMN) và Cọng sản Hà Nội cũng như phải t́m cho bằng được Chân Tín, Trần hủu Thanh, Huỳnh Liên, Ngô bá Thành,Huỳnh tấn Mẫm.. để lấy bằng chứng về “ chuồng cọp Côn Đảo, chuồng cu Chí Ḥa.”.

Ngày 29-4-1975 Dương văn Minh lên chức Tổng Thống, Chân Tín vội vă tới yêu cầu trả tự do tức khắc cho các tù chính trị nhưng bị họ Dương sai khéo vào yết kiến Vơ đông Giang tại Phi trường Tân Sơn Nhất xin đầu hàng. Tại đây y bị VC giữ cho tới khi Sài G̣n thất thủ mới được thả. Do những bi thảm năo nùng trên, nên tù binh được lệnh gây bất an thường xuyên, để đạt cho được mục đích VU KHỐNG phía VNCH, vừa đánh trống la làng trước dư luận quốc tế qua cái loa của Tin Sáng, Đối Diện, Thách Đố, đài VC /BBC Luân Đôn.. vừa vỗ ngực rằng ta tuy đang ở tù nhưng không đầu hàng và trên hết vẫn tiếp tục chiến đấu trong tù. Thật ra tất cả tù binh cọng sản bó buộc phải làm như vậy, để khi được trao đổi, th́ c̣n cơ hội thấy lại được gia đ́nh, phục tước và không mất chức mất đảng, cắt hộ khẩu tem phiếu th́ chết đói.

Có là người Quân Cảnh canh giữ tù binh, mới biết được mặt thật và chân dung của “ bộ đội bác Hồ “. Nghe vậy mà không phải vậy, hung dữ, bạo tàn, táng tận lương tâm ngay với chính đồng đội của ḿnh, qua những pha thanh toán nội bộ khủng khiếp ngay trong trại giam. Chỉ cần một lư do nào đó, những hận thù chồng chất trong đầu óc hiếu sát bị chèn nén, lập tức nổ tung.Những thanh toán đẫm máu tập thể đồng bọn như móc mắt, đóng đinh vào đầu, bịt mắt bỏ bao hoặc tập thể bề cho tới chết. Riêng cán gái tại trại tù binh miền Trung, được mô tả cũng dũng liệt không kém bộ đội trai, nhất là màn nội bộ thanh toán, cũng không thua ǵ các trận đ̣n ghen bằng acid hay dùng lưỡi lam phá tan nhan sắc của kẻ đối đầu.Cho nên đâu có lạ ǵ cái chanh chua ghê khiếp của Dương thu Hương, Phan Thúy Thanh hay việc bộ đội miền Bắc chém giết tập thể đồng bào vô tội trong Tết Mậu Thân (1968) tại Huế, trên các đại lộ kinh hoàng tại Quăng Trị, Kon Tum, B́nh Định, An Lộc trong mùa hè đỏ lửa 1972 và những ngày tháng tư đen 1975 trên khắp mọi nẻo đường đất nước.

Trưa 30-4-1975 xe tăng cọng sản tràn ngập các nẻo đường Sài G̣n, chỉ có lá cờ xanh xanh đỏ đỏ của Mặt trận lung lẳng sau xe, c̣n tất cả như Lê Đức Thọ tuyên bố là đảng ta đó. Rồi th́ “ ngụy quân, ngụy quyền và cả nguỵ dân “ khắp nước được lệnh học tập chứ không đi tù, v́ tất cả là anh em nên không có kẻ thắng người bại

Ngày xưa Việt cộng phản loạn, tù binh Bắc Việt sát nhân, nhờ có luật pháp quốc tế bảo vệ, nhóm của Chân Tín che chở.. nên sống trong tù thung dung no đủ. VNCH mất , Mỹ cút, quốc tế ngoảnh mặt làm ngơ, nên tù binh và dân chúng miền Nam bị tù sướng ngột thở. Ngày xưa những trại tù cọng sản, xa tận Côn Đảo, Pleiku.. vẫn không thiếu khách quư ngoại quốc và các phái đoàn liên tôn nhà văn nhà báo, viếng thăm viết báo cáo.
Khi cọng sản làm trùm, những thiên đàng xă nghĩa tại Sở Công An , Chí Ḥa, nhà giam Phan Đăng Lựu Gia Định, ba bước đă tới nhưng không thấy một bóng ma hiện h́nh, khiến cho tù nhân trong đoạn trường máu lệ, ăn cơm sát hầm xí, ngủ ngay trên nước tiểu đống phân, khổ cực , đọa đày, chen chúc nằm nghiêng như cá ṃi xép trong hộp, chỉ biết lấy nước mắt làm canh nuốt cơm độn, cơm bo bo v́ kêu trời trời ngoảnh mặt, kếu đất đất làm ngơ, kêu sư, thầy, trí thức th́ ai nấy cũng xụi lơ, lớp chạy theo Mỹ, phần kẹt lại th́ chết đứng trước AK mă tấu.Rốt cục thượng vàng hạ cám, làm lính diệt cộng hay nằm vùng phục kích, tỷ phú cùng đinh, văn nhân nghệ sỹ, kéo xe đổ rác, mấy cha mấy thầy... tất cả sau ngày 1-5-1975 đảng vào Sài G̣n, lần lượt sau trước, rủ nhau vào tù.

Đừng tưởng cọng sản chiếm được miền nam rồi không tắm máu cả nước là nhân đạo. Thật ra chúng không dám làm như Khmer đỏ và Polpot v́ VN khác Kampuchia. Động mă tấu và súng đạn lúc đó là loạn ngay, không chừng đồng bào đau khổ miền Bắc cũng nhập cuộc.Bởi thế chúng dùng tṛ dụ khị từ tướng tới lính, trên quan dưới dân, qua chiêu bài học rồi về. Do đó ai cũng tưởng thiệt, tự ḿnh tự nguyện bó tay vào tù lúc nào không biết.Thế là chúng thẳng tay trả thù tận tuyệt

Sau này anh em c̣n sống sót gặp nhau, ai nấy đều cho rằng trong muôn ngàn cái tân khổ chịu đựng, th́ việc bị “ VC lừa tự nguyện vào tù “, mới là “ nỗi đau lớn nhất “, phải khiến người ta chảy nước mắt ṛng ṛng. Ai thoát cảnh tù cọng sản cũng đều có quyền hănh diện hay kể lại nỗi khổ trong tù cho mọi người biết nhưng tuyệt đối đừng có lấy đó để nghe nói nghe đồn mà hại người. Chắc chắn trong lao tù cọng sản xưa nay, từ đông sang tây, từ người xuống cỏ, không có một ai thích làm anh hùng nhưng hầu hết những tù nhân VNCH đă tồn tại rực rỡ khi bước ra khỏi cổng thiên đàng. Nhà tan mất nước, muôn dân đồ thán, sắt đá cây cỏ c̣n biết khóc giùm cho đời tù, vậy th́ đừng lấy tù làm thành tích khi thoát ra khỏi nó, mà chỉ cám ơn nó v́ nhờ nó ta thuơng nhau hơn, ta hận cọng sản hơn, làm được như vậy mới xóa sạch nhục nhă đă nén gánh trong chốn lao tù

2 – Những Ngày Ngẩn Mặt Nh́n Trời
Chín giờ sáng ngày 30-4-1975 tại dinh thủ tướng Vũ văn Mẫu, qua một đêm thức trắng bạc đầu, tổng thống VNCH hai ngày Dương văn Minh, nghe theo Nguyễn hữu Thái đầu hàng Hà Nội. Một cuốn băng thu âm tiếng nói của Việt cộng nằm vùng Nguyễn hữu Hạnh, mượn danh Dương văn Minh bắt QLVNCH buông súng đầu hàng giặc.VNCH coi như sụp đổ lúc 12 giờ trưa cùng ngày, khi tên Thái dẫn đường cho bộ đội Bắc Việt lên nóc dinh Độc Lập treo lá cờ nửa xanh nửa đỏ ngôi sao vàng của MTGPMN, trước sự chứng kiến của TT Minh, NT Mẫu và nội các hai ngày.

Từ đó người miền Nam chịu cảnh đổi đời. Tất cả được Hà Nội gọi là “ nguỵ “. Cha sư không theo quốc doanh bị gọi là cha sư ngụy, lính là ngụy quân, công cán cảnh là nguỵ quyền kể luôn dân đen trong suốt cuộc chiến, chẳng hề nhớ tới nước là cái ǵ, cũng bị gán là ngụy dân. Cũng nhờ “ cách mạng “ từ bắc vào nam, từ bưng ra tỉnh giải phóng và tổng thống Dương văn Minh kịp thời ra lệnh QLVNCH buông súng đầu hàng khi nắm quyền, nên cả nước được “ sánh vai tiên nhanh tiến mạnh, vững chắc phấn khởi “ từ người xuống chó, chết chung một mồ.

Cho đến bây giờ dù giấy không c̣n gói được lửa, thúng không úp đủ voi, người ta cũng không biết được thật sự đă có bao nhiêu người miền Nam chết khi đă có ḥa b́nh ngưng bắn trong các trại tù khổ sai lao tác khắp nước, tại các khu kinh tế mới rừng thiêng nước độc, nơi công trường tập thể đội đá vá trời cũng như trên đường vượt biên, vượt biển t́m tự do.

Cũng không ai biết được có bao nhiêu người nhà giàu tự tử chết khi tài sản của ḿnh bị cướp giựt và số vàng bạc châu báu, nhà cửa ruộng vườn, ghe thuyền thùng lều nước mắm, chùa chiền nhà thờ, trường học tu viện.. bị cưỡng chiếm lên tới mức nào, trong đó có biên nhận là 16 tấn vàng tài sản quốc gia, bị tên tiến sĩ Nguyễn văn Hảo cướp dem dâng cho Lê Duẩn, Lê Đức Thọ năm 1975 chở về dấu trong hang núi tại Côn Sơn Hải Dương rồi chia nhau hưởng đủ.

Ngày nay ai cũng trách Dương văn Minh, không phải v́ ông đă ra lệnh đầu hàng nhưng họ nói ông quá ngu lại không biết ǵ về chính trị, mà lúc nào cũng hám danh làm hại cho dân cho nước. Người ta nói Dương văn Minh là tên hề hèn, ham sống sợ chết, không dám hành sử xứng đáng với thân phận và cương vị của ḿnh. Là một đại tướng, lănh tụ khối thứ ba, tổng thống, tổng tư lệnh nhưng Dương văn Minh cố t́nh làm ngơ các gương trung liệt nghĩa khí của người xưa, gương anh hùng bất khuất của thuộc hạ và cái liêm sỉ người, để dám chết giữ tṛn khí tiết, hơn là sống nhục nhă trước ống kính thu h́nh, khoanh tay khúm núm giữa bọn bộ đội quèn miền bắc, trong đó có tên Bùi Tín đang muá máy quay cuồng.

Thật vậy Dương văn Minh lúc đó nào khác Vơ Tánh, Ngô Tùng Châu bị quân Tây Sơn vây hăm tại thành B́nh Định năm Tân Dậu 1801. Trong hết lương,ngoài không binh cứu, hai tướng Vơ Tánh và Ngô Tùng Châu đành phải viết thư gởi cho tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu xin đầu hàng và nói :” Ta làm tướng sẽ biết tự xử khi thành mất, c̣n binh sĩ không có tội ǵ, không được giết hại “.Sau đó Vơ Tánh tự thiêu c̣n Ngô Tùng Châu th́ uống độc dược quyên sinh, để lại tiếng thơm muôn đời trong ḍng sử Việt. Ngày 30-4-1975, ngay khi Minh ra lệnh đầu hàng giặc, nhiều binh sĩ khắp các đơn vị từ cán bộ XDNT, Cảnh sát, DPQ-NQ cho tới bộ binh, Dù, TQLC,LLDB,TG,BDQ dùng lựu đạn hay súng tự tử. Các tướng lănh QLVNCH như Phạm văn Phú, Nguyễn Khoa Nam, Lê van Hưng, Trần văn Hai, Lê Nguyên Vỹ.. tự sát để bảo toàn sĩ khí, danh dự đời trai, đời lính. Riêng Dương văn Minh ham sống chịu nhục một đời.

“ Phố xưa em buộc đôi hàng bím
nay tóc về đâu, hồn ở đâu “

Thơ Du tử Lê bổng khiến ngậm ngùi cho đời lính trong cơi đi về. Kiếp lính ngày xưa trên quê hương cũng vẫn là những con chim hồng tung bay lạc nẻo, th́ ngày nay trong cơi lưu đày lại càng mù mịt lang thang. Xa quá rồi phải không quê hương, bè bạn ? vậy sao không ngồi xuống đây để cùng nh́n lại cuộc đời rồi khóc cho thân phận nhược tiểu Việt Nam.Hai mươi năm chinh chiến đoạn trường, chúng ta những người lính tính được bao nhiêu ngày sống bên mẹ già em dại hay đă tự dốc ngược đời ḿnh trong ḷng men đắng, trên giàn lửa thiêu, lang thang như mây chiều bên trời lẽ bóng

.Rồi những ngày dưỡng quân phố thị lạc lơng sang nghèo, mới cảm nhận được cái chát chua tuổi trẻ, thương cho kiếp lính rẻ rúng phận bèo, đời thật là oan khiên định mệnh. Chịu đựng rồi gục ngă, câm nín tới hy sinh, người lính cuối cùng vẫn sống và đang ưỡn ngực đối diện với địch thù. Lịch sử dù bị khuất lấp bởi cát bụi thời gian nhưng vẫn không át nổi lao xao tiếng đời tiếng miệng

Đừng tưởng người ta chưa nói tới là xong rồi. Không phải vậy đâu, hưng thịnh và tồn vong chỉ cũng là một khúc quanh lịch sử nhưng những kẻ gian manh, những tên đại nghịch th́ muôn đời vẫn bị trời tru đất diệt. Cho nên Hồ tặc và đồng bọn dù có lấy sách che trời, dùng súng bít miệng th́ Hồ Chí Minh cũng vẫn là Côn là Thành, là Lă Bất Vi buôn vua bán nước.

Cho nên ngày nay chỉ nghe tới cột đồng Mă Viện, điện Diên Hồng, Ashaut, A Lưới, B́nh Giả, Kon Tum, Côn Đảo hay miền thượng du Bắc Việt, vậy đă có bao nhiêu người biết tới ? Tuy nhiên cái nổi b́ bỏm trong vũng śnh lầy ngang tới ngực, trên đầu có muỗi dưới hông đĩa ṃng mà lính trải qua năm nao, chắc sau này nhiều người được hưởng khi bị làm sâu thủy lợi.

Lịch sử luôn tái diễn không ngừng và bất cứ dấu chân ai cũng đều bước vào lịch sử. Ba mươi sáu năm trước có ai ngờ được ngay trên đất nước Hoa Kỳ, một đồng minh bán đứng VNCH năm 1975, lại cho phép người Việt tị nạn cọng sản xây dựng một Đài Chiến Sĩ Trận Vong QLVNCH đầu tiên tại hải ngoại, nơi thành phố New Orleans. Lể khánh thành vô cùng trang trọng vào ngày 30-4-1988 với sự tham dự của 300 quan khách Việt-Mỹ, trong đó có hai ông Thị Trưởng Sidney Barthelemy, Gerald Blessey. Đây là bước khởi đầu của một hành tŕnh dai dẳng , mà người Việt cưu mang và cuối cùng đă đạt thành công, dựng đài vinh danh và nhớ ơn chiến sĩ VNCH tại thành phố Sài G̣n nhỏ vào năm 2003. Rồi th́ cờ vàng ba sọc đỏ tiếp tục ngạo nghễ tung bay khắp các nẻo đường hải ngoại, từ vùng giá lạnh cực bắc Michigan, Hoa Thạnh Đốn, Minnesota, New Orleans, Houston cho tới nhiều thành phố có đông người Việt tị nạn ở hai miền nam bắc tiểu bang Califonia.

Thời trung cổ, trong khi nhiều nơi trên trái đất, con người c̣n sống thuở hồng hoang. Trung Hoa,, Ấn Độ,Ai Cập, Hy Lạp, La Mă.. là những cái rốn văn minh của nhân loại nhưng đâu có ngờ được tại một miền đất nhỏ Đại Việt, nơi điện Diên Hồng , vua Trần đă cho mời những bô lăo khắp nước về dự đại hội toàn quân, toàn dân chống giặc xâm lăng Nguyên-Mông.

Đây không phải là những khoa bảng trí thức, cũng không hề là thượng lưu đại quan, mà là những hạng thứ dân đầu trần chân đất. Họ tới từ đồng rưộng, thắt lưng đeo bầu rượu, tay chống gậy trúc, tóc râu bạc như sương. Chính họ chứ không phải quan quyền đang hiện diện, đă đồng thanh quyết đánh. Nhờ cái sĩ khí can trường đó mà vua Trần và Đức Hưng Đạo Vương cùng các chiến sĩ, thề diệt giặc Mông, cứu nước non khỏi sự dầy xéo tang thương của Mông Cổ. Lịch sử lại tái diễn nơi quê người, những người lính già lại cùng hội ngộ, để quyết chiến chống bạo Hồ ṛng ră suốt ba mươi sáu năm qua nhà tan nước mắt.

Trong cái tận cùng thê thiết của cuộc bể dâu, chỉ c̣n lại có người Việt sống c̣n. Công hầu khanh tướng, phú quư vinh hoa, giờ này bộ c̣n hay sao trong cơn lốc đời ? và nếu có, th́ đó chính là những ǵ ta có hôm nay đối với non nước. Đây mới đích thực là “ liêm sỉ của con người “. Hai mươi năm chinh chiến, mười mấy năm tù đầy và giờ nghẹn ngào bỏ quê hương mà trốn giặc. Nghiệt ngă oan khiên như núi chưa thấy đủ hay sao ? Dư luận có thể không đếm xỉa tới những bịa đặt cá nhân nhưng chắc chắn bia đời bia miệng sẽ không tha thứ cho những người có trách nhiệm trước quốc dân trong cơn băo lửa, nay chỉ v́ một vài bụi bông cỏ mây làm vướng bấu quần, mà bỏ cuộc.

‘ Anh hết thây không phải là hết nhớ
những căm hờn trong khẩu hiệu vang lên
những biểu ngữ kêu gào nhau chém giết
giải khăn sô oan nghiệt quấn đầu thơ
xương chất thành non, biển hận không bờ
ngàn xác gục trong thước vuông chủ nghĩa.. ’ ’
(thơ Xuân Hiến)

Viết từ Xóm Cồn Hạ uy Di
Quốc Hận 30-4-2011
HỒ ĐINH

 


B̀NH LUẬN

Thôi rồi... 
Chuyện biển đông 
Quả đại pháo cuối cùng  
Biển Đông dậy sống  
Vụ HD 981: Việt Nam xem xét quan hệ chặt chẽ hơn với Hoa Kỳ
Thư trả lời một bạn Du Học Sinh....
Gửi các anh Quân Nhân QLVNCH đang ảo tưởng
Tổ Quốc muốn ta phải kiên cường
Đừng mắc mưu bọn Việt cộng....
Việt Cộng – Việt Cộng  
Một âm mưu thâm độc của Việt Cộng 
Họ là “ngụy”, ta là ǵ?  
Việt cộng hóa

Kinh nghiệm tạo ra kinh nghiệm
Những sự thật cần phải biết
Giọt nước mắt cho quê hương
Vơ Thị Thắng và Nguyễn Phương Uyên, bóng tối và ánh sáng
Muốn Việt Cộng sớm sụp đổ
Tổ Quốc Việt Nam - C̣n hay đă mất?
Đồng chí Ếch dốt chính tả
Đứng chàng hảng 
Thời sinh viên ở Sài G̣n  
Hăy nói trước ngày chết  
Chuyện cái sổ hưu
Thật giả, giả thật
Bất an
Nhận định về cuộc bầu cử Tổng Thống Mỹ 2012
Thế hệ của tôi – một thế hệ vứt đi
Người CS - Cộng sinh hay kư sinh
Miền Nam sau 37 năm dưới chế độ CS
Lẳng lặng mà xem...
Chủ nghĩa tư bàn và chủ nghĩa tư bản đỏ
Không có gí quư hơn độc lập con c...
Bản án chế độ cộng sản VN
Phản hồi về bài báo "Hành động lố bịch" trên báo QĐ...
Thân phận một tù nhân chính trị VN bi quên lăng
Hơi ấm non sông
Mẹ kiếp: Đứa nào bán nước?
Thêm lần nhắc nhớ
Hào khí Việt Nam – Đáp lời Sông Núi!  
Nhân ngày Quân Lực 19 tháng 6...  
Hai câu chuyện phụ nữ Việt Nam
Tương lai nào cho đảng cộng sản VN?
Anh hùng dân tộc
Thiên tài đảng ta
Ngọc ở trong nhà
Băi nhiệm và bất tín nhiệm
Ngày phán xét sẽ đến
Thân phận "cử tri" và "Đại biểu Nhân dân" ở Việt Nam
Sức mạnh của Cộng Đồng người Việt Quốc Gia hải ngoại  
Giữa Đạo và Đời
Tiên lăng - Chuyện không đơn giăn
Triệu con tim, c̣n triệu khối kiêu hùng
Độc quyền đẻ ra đặc quyền
Những viên Đạn Hợp Âm
Đảng là tên đầy tớ phản phúc!
Cơn băo lốc
Kẻ thù nguy hiểm chính là thành phần đánh phá cộng đồng
Xuân quê hương
Nhân quyền trong rừng luật
Nhận lầm đồng hương
Vô tôn giáo
Bạo lực của cường quyền: Xưa và Nay
Nhân quyền trong rừng luật
Những người "vọng quốc"
Chó sói gởi chân
Làm thế nào để giành lại tự do?
Thử cho biết
Tin nhà nước !
Thế chân hạc mới tại Á Châu
Thời anh hùng
Đỗ Thị Minh Hạnh - Giọt nước hay mảnh thuỷ tinh
Tuyển dụng nhân tài
Nghề bán nước
Đạp vào mặt lịch sử
Cái giá của độc lập và tự do
Thêm một chiến sĩ đấu tranh bị cầm tù
Thằng dân
Người lính VNCH & vành khăn tang Tổ Quốc
Nhận định t́nh h́nh đất nước hiện nay
Núm ruột quê hương
Dép râu và nón cối của bộ đội Việt Cộng
Khủng bố: Xưa và nay
Lại viết về nổi bất hạnh của QLVNCH
Bài học 30 tháng 4
36 năm Quốc hận nghĩ về tâm trạng của tù nhân chính trị
Những ngộ nhận lịch sử
36 năm Quốc hận tôi nghĩ ǵ?
Nhớ lại nỗi bất hạnh của QLVNCH
Quốc gia thua để thắng, cộng sản thắng để thua
Chiến sĩ VNCH được giải ngũ chưa?
Người lính VNCH
Sáng mắt ra chưa?
Trí tức thổ tả
Giă từ Thiện và bệnh Mù Loà
Triển vọng chiến thắng công sản của người Quốc Gia
Tôi là ai? Việt hay Mỹ?
Xuống đường
Nằm Vùng? Ai? Ở Đâu?  
Lộn xộn tiếng Việt thời giao lưu văn hóa ở Việt Nam
Mậu Thân, Anh c̣n nhớ hay đă quên ?
Thiên đàng XHCN
Từ Tunisia, qua Yemen, đến Ai Cập, bao giờ đến công sản Việt Nam ?
Đàn cá trong ao bác Hồ và những con chó của Pavlov
Ṭm tem...
Thư gửi Nguyễn Đắc Xuân
Về chuyện “trong sáng hóa” tiếng Việt...
Tự điển
Văn hoá và con người
Chuyến xe buưt và khúc hát người lính mù  
Vài suy nghĩ về biểu t́nh chống văn hóa vận tại Melbourne
Những kẻ thầy đời
Nhạc lính
Tin và không tin trong xă hội VN
Khi bài hát trở về
Từ buổi chiều trên nghĩa địa Hàng Dương
Ḷng dân đang chuyển ?
Tứ Bất Tận - Tứ Bất Năng
Lê Thị Công Nhân
Nh́n lại đống rác lịch sử đánh Mỹ cứu nước của csvn
34 năm sau, họ là ai ?
Nh́n Tây Tạng thấy Việt Nam
Chuyện đời...
Đặc công văn hoá miền Nam
Bài viết từ một người SG
Thư ngỏ gửi những người trí thức mê sảng...
Tội nghiệp đất nước tôi
Thời thế mới, đấu tranh mới...
Bao giờ dân Việt trở thành thiểu số trên chính quê hương ḿnh
Nói với các con tôi
Phiên phiến tuổi già
Hành vi nhỏ... dă tâm lớn
Gà trống và cáo
Xin đừng lăng quên nhà dân chủ trẻ Lê Trí Tuệ
Thảm trạng người Việt tỵ nạn tại Cam-bốt
Sao anh nỡ đành quên
Thế hệ già hải ngoại nên nh́n lại
Khiếp nhược: Nhục và hèn
Tiếng nói từ Mộ Đức
Từ tiếng súng Trần Văn Bé Tư
Ca rao thời đại hcm
Những vần thơ chui
Lê Thị Công Nhân - Người con cưng của ...
Cũng bởi thằng dân ngu
Chống VC hay TC?
Cái Làn và cái L...
Trông thấy vậy mà không phải vậy
Thèm
Hăy vất bỏ khối nặng của tính ác và sự xấu
Chọn lựa
C̣n cờ đỏ sao vàng th́...
Đừng măi lợi dụng "nỗi đau da cam"...
Lạ và nhạy cảm
Chân dung người vợ lính
Việt Nam lâm nguy
Gịng sông Bến Hải vẫn c̣n
Giáo dục VN, tội ác băng hoại xă hội
34 năm nh́n lại cuộc chiến chống csVN
Nay anh, mai tôi
Chiến dịch hoa hồng đỏ của csVN
Đêm nhớ về anh
Nhớ Vơ Hoàng
Cái miệng
Từ Lê Văn Thinh đến Nguyễn Cung Thương
Chuyện phải viết
Vất chanh bỏ vỏ
Tổ Quốc - Danh Dự - Trách Nhiệm
Mối nhục của một quốc gia
Lá Cờ
Mơ ước của tôi
Chim hạc và chó săn
Tường tŕnh 10 điểm, Đạo đạt lên LHQ
NK Đặng Thuỳ Trâm - Sản phẩm dối trá ...
Tóm tắt một số tội ác cs VN
Sự thực về cái gọi là "Đại thắng mùa Xuân
Bọn cs sợ quan thầy ...
Xin hăy cứu lấy Tổ Quốc
Tâm t́nh gửi đến anh chị CQN QLVNCH
Đỉnh cao cháy rụi
Mậu Thân, anh c̣n nhớ hay đă quên
Cảnh giác âm mưu "tẩy nảo" của Casula Powerhouse
Bệnh "dại" của người Việt
Chuyện Nguyễn Thái Hoàng
Niềm kiêu hănh của người Việt
Chiến dịch "tháng Tư đen"
Tổng phản công nghị quyết 36
Kép độc cứu nguy
Thăm nom và săn sóc nhau lúc c̣n sống
Giặc từ thiện
Tiền nhân...
Những ám ảnh khó tẩy xóa
Tính hay quên của người Việt tỵ nạn cs
Món nợ nên ghi nhớ
Nên đầu tư cho thế hệ trẻ
Mẹ Âu Cơ - Tiếng thở dài và niềm an ủi
Trăm trứng trăm con - Một truyền thuyết
Hai h́nh ảnh - Một sự so sánh
Ông Kỳ "Xuống Cấp"
Tôi thấy và nghe được ǵ ở Sài-G̣n ...