Tôi thấy và nghe được ǵ ở Sài G̣n và miền Nam sau 32 năm dưới chế độ cộng sản?

Nguyễn Văn Trấn

Đây không phải là một phóng sự hay một bài nghiên cứu xă hội với những phương pháp khoa học của nó - mà chỉ là những điều vụn vặt mắt thấy tận nơi, tai nghe tận chỗ - ghi lại một cách trung thực.

Tôi thấy bộ mặt Sài g̣n đổi mới với: Những khách sạn 5 sao, 4 sao lộng lẫy. Đổi mới với những nhà hàng 'vĩ đại' trên các tuyến đường du lịch. Với những trung tâm 'thư giăn' sang trọng, quư phái cỡ câu lạc bộ Lan Anh. Với những vũ trường cực kỳ tráng lệ như vũ trường New Century Hànội. Với những trường Trung học tư thục mang tên Mỹ, giáo sư Mỹ, chương tŕnh học của Mỹ, giảng dạy bằng tiếng Mỹ- học sinh phải trả học phí bằng tiền Mỹ - 600US$ đến 1000US$ /tháng. (Giai cấp nào đủ sức trả học phí nầy cho con?).

Tôi cũng hiểu rằng các nơi nầy là nơi ăn chơi của vương tôn công tử 'đỏ', các nhà giàu mới - thân nhân các quyền lực đỏ đứng đàng sau, và các quan chức đỏ đô la đầy túi. Họ đến đây để 'thư giăn', uống rượu, đánh bạc, cá độ và t́m gái. Uống chơi vài chai rượu ngoại VSOP, XO là chuyện thường. Mỗi đêm có thể tiêu hàng ngàn đô la Mỹ cũng không phải là điều lạ. Trong khi lương tháng của một thầy giáo Trung học trường công không đủ để trả một chai rượu XO. Vụ MPU.18 cá độ hàng triệu US đô la đă bị phanh phui là một thí dụ cụ thể. Vũ trường New Century bị Công an đến giải tán v́ các công tử, và tiểu thư con các quan chức lớn, nhảy đă rồi... 'lắc' suốt đêm, vài hôm sau - đâu cũng vào đó... Tôi cũng thấy Sàig̣n- người, xe và phố xá dầy đặc, nghẹt thở - vài ṭa cao ốc mọc lên vô trật tự. Ở xa xa, có cái trông giống như chiếc hộp quẹt, nhà cửa mặt tiền hầu hết đều lên lầu nhiều tầng. Kiến trúc hiện đại. Vật liệu nhập cảng đắc tiền. Nhà trong hẻm - phần lớn cũng lên nhiều tầng cao nghệu. Có nhiều khu xây cất bừa băi, nhô ra thụt vào như những chiếc răng ḷi xỉ vô duyên, lấn chiếm ngang ngược đất công hoặc lề đường.

Tôi thấy Sàig̣n bị ô nhiễm trầm trọng với hằng triệu tiếng động cơ, ngày đêm đinh tai nhức óc, và 3.000.000 chiếc Honda - phun khói mịt mù - chưa kể đến xe hơi. Và hệ thống cống rănh lạc hậu, mỗi khi trời mưa lớn nước rút không kịp, ứ đọng tràn ngập nhà cửa. Hệ thống đổ rác c̣n lạc hậu, không đáp ứng nổi nhu cầu thải rác của 8.000.000 dân nhung nhúc như kiến. Sàig̣n đầy dẫy những hàng ngoại do công ty ngoại quốc sản xuất tại chỗ, hàng lậu của Trung quốc tràn vào vô số kể. Máu kinh tế Việt Nam bị loăng ra. Nhưng chế độ xă hội chủ nghĩa im thin thít chịu trận, không dám một lời phản kháng. Một chiếc xe Honda nhăn hiệu Trung quốc giá khoảng chừng 1000 đô la Mỹ... chưa kể hàng Trung quốc lậu thuế, rẻ mạt... Thuốc lá và bia - bia nội, bia ngoại - có đủ... Nhậu và hút là 2 cái mốt b́nh dân thời thượng nhứt ở Sài G̣n. Đảng viên, cán bộ - giai cấp thống trị - nhậu... Già nhậu, trẻ nhậu... con nít cũng tập tành nhậu. Hút th́ khỏi nói... Giai cấp cán bộ răng đen mă tấu bây giờ là giai cấp nắm thống trị - đă lột xác - không c̣n quấn thuốc rê, bập bập phà khói mịt mù nữa - mà lúc nào cũng lấp ló một gói 3 con 5, Craven A, trong túi. Lănh đạo hút, cán bộ hút, dân chúng hút - thậm chí con nít 9, 10 tuổi ở đồng quê cũng ph́ phà điếu thuốc một cách khoái trá. Các hăng bia và thuốc lá ngoại quốc đă t́m được một thị trường tiêu thụ béo bở. Cán bộ lớn cũng âu phục cà vạt hẳn hoi, xe hơi bóng loáng, nhưng bộ răng hô, mái tóc bạc thếch, và nước da mốc mốc, không dấu được nét thô kệch của một anh nhà quê lên tỉnh.

Tôi c̣n thấy Sài g̣n với hiện tượng 'tiếm công vi tư' lộng hành, ngang ngược của Công an đến độ dân chúng quen thuộc, xem là một chuyện đương nhiên như chuyện hối lộ đă trở thành cái lệ bất thành văn trong chế độ xă nghĩa. Chiếm đoạt một nửa công viên, xây nhà gạch dùng làm quán cà phê. Chưa thỏa măn - ban đêm c̣n dọn thêm bàn ghế trên sân cỏ của phần công viên c̣n lại và thắp đèn màu trên mấy chậu kiểng cho thêm thơ mộng. Ông chủ bự nầy chắc chắc không phải là dân thường. Ông lớn nầy xem công viên như đất nhà của ông vậy. Ai có dịp đi ngang qua mũi tàu - nơi gặp gỡ của 2 đường Nguyễn Trăi và Lê Lai cũ, ngang hông nhà thờ Huyện Sĩ - th́ rơ.

C̣n nhiều, rất nhiều chuyện lộng hành chiếm đất công, lấn lề đường nhan nhăn ở khắp Sài G̣n. Chỉ đưa ra vài thí dụ cụ thể: Một công thự tại vườn Tao Đàn (có lẽ là nhà cấp cho viên giám đốc công viên Tao Đàn) - mặt tiền ngó vào trong - mặt hậu nh́n ra phía đường Nguyễn Du (Taberd cũ) - bèn có màn trổ cửa mặt sau nhà, xây thêm phía sau thành 2 căn phố thương măi mặt tiền ngó ra đường Nguyễn Du, trị giá mỗi căn, nhiều trăm ngàn mỹ kim - ngon ơ! Tương tự như vậy - ở góc đường Thành Thái và Cộng Ḥa cũ, trước sân nhà của ông Hiệu trưởng trường Quốc gia Sư Phạm trước 75 - phố thương măi, quán xá la liệt chiếm mất mặt tiền. Ngang ngược và lộng hành nhứt là 2 căn phố thương măi bên hông trường Trương Minh Kư, đường Trần Hưng Đạo, chễm chệ xây lên ngay bên góc phải sân trường như thách đố dân chúng. C̣n trên lề đường khá rộng trước câu lạc bộ CSS cũ - bây giờ là Câu lạc bộ Lao Động - nhiều gian hàng thương măi bán quần áo, giày vớ thể thao... buôn bán ầm ĩ, náo nhiệt suốt ngày.

Công an chiếm đất công, xây nhà tư. Công viên, lề đường trước nhà dân là đất riêng của Công An. Công an sử dụng làm chỗ gửi xe, bịt kín cả lối đi vào nhà. Không ai dám hó hé. Im lặng là an toàn. Thưa gửi là dại dột. Mà thưa với ai? Tất nhiên là phải thưa với công an. Không lẽ công an xử công an? Tướng CS Trần Độ phản ảnh c̣n rơ rệt hơn: '... Xă hội Việt Nam ngày nay là một xă hội vô pháp luật mà phần đầu tiên gây ra là Đảng. Không thể nào chống tham nhũng được v́ nếu Đảng chống tham nhũng th́ Đảng chống lại Đảng sao?' ('Nhật kư Rồng rắn' của Trần Độ).

Nón cối, nón tai bèo, dép râu, áo chemise xùng x́nh bỏ ngoài chiếc quần màu cứt ngựa của người cán bộ CS ngơ ngác khi mới vào Sàig̣n - đă biến mất. Cũng không c̣n thấy những chiếc áo dài tha thướt của những cô gái đi dạo phố ngày cuối tuần trên các đại lộ Lê Lợi, Lê Thánh Tôn, Tự Do... những ngày trước 75 nữa. Thay vào đó là một đội ngũ phụ nữ - mũi và miệng bịt kín bằng 'khẩu trang', găng tay dài đến cùi chỏ, cỡi Honda chạy như bay trên đường phố.

Tôi c̣n thấy những người nghèo khổ chở trên chiếc xe thồ, những thùng carton và bao túi nylon, chồng chất lên nhau cao ngất như sắp đổ xuống. Những bà cụ già, những cậu bé tuổi đáng được ngồi ở ghế nhà trường, những anh phế binh cụt tay, cụt chưn, lê lết trên một miếng ván gỗ đi bán vé số (một cách ăn xin trá h́nh), những em bé mặt mũi lem luốc đang bươi những đống rác để lượm các bao nylon, lon coca, chai bia đem về bán... hay những em bé rách rưới lang thang trước những tiệm ăn chờ khách ăn xong nhào vô bưng tô súp cặn húp vội đỡ ḷng, c̣n những trẻ khác - mắt láo liên trông chừng công an, tay ch́a chiếc hộp, làm dấu mời khách đánh giày - những em bé gái đang h́ hục đẩy khách lên đồi cát bằng miếng ván có gắn bánh xe ở 'Đồi cát bay' Phan Thiết. Hỏi 'sao em không đi học'? - Trả lời: 'Nhà không đủ cơm ăn, con làm cái nầy để kiếm thêm cơm ăn'.
Nhiều bà mẹ nhăn nhó ôm thằng bé mặt mày xanh lét, không c̣n chút máu, chờ suốt buổi sáng trước tiếng quát tháo ầm ĩ vẫn chưa tới phiên ḿnh vào bệnh viện chữa trị cho con. Nghe nói mấy năm trước đây có nhiều bà mẹ đứng trước bệnh viện Chợ Rẫy chờ bán máu ḿnh để qua cơn đói khổ ngặt nghèo như nhà văn Trần Trung Đạo đă mô tả. Lại nghe một bệnh nhân đứng cạnh đó, cũng chờ đến lượt ḿnh, than thở: 'Ở đây là vậy đó ông ơi! Chữa bệnh phải có tiền - trước nhứt phải qua cửa - lọt qua cửa th́ c̣n nhiều khâu - khâu nào cũng phải ch́a tiền. Muốn sống - phải có tiền. Chết cũng phải có tiền'.

Bộ mặt Sài g̣n 'đổi mới' bằng những khách sạn lộng lẫy, những câu lạc bộ thời thượng, những phố xá thương măi sang trọng, những hiệu kim hoàn lóng lánh kim cương, những nhà hàng ăn vĩ đại, những vũ trường cực kỳ tráng lệ, những biệt thự đồ sộ nguy nga mới xây bằng vật liệu ngoại đắt tiền trang trí cây cảnh như một mảng vườn thượng uyển của vua chúa ngày xưa, những xe hơi bóng loáng nhởn nhơ trên đường phố... nhiều người chóa mắt, choáng váng, cho là 'Việt Nam bây giờ tiến bộ quá'. Riêng phó thường dân tôi tự nghĩ: Như vậy có phải là tiến bộ không? Sự tiến bộ của một nước cần phải nh́n về nhiều mặt: Mặt y tế và giáo dục, mặt đời sống vật chất và tinh thần của dân chúng... Lợi tức đầu người của Việt Nam - theo thống kê của báo The Economist - bằng: 555 US $ năm 2007 (Hà Nội bốc lên 730 US $) chỉ hơn Lào và Cambodia chút đỉnh. So với các nước láng giềng: Thái Lan: 2550 US $ - Phi luật Tân: 1040 US$ - Nam Dương: 1160 US$ - Tân gia Ba: 24840 US$. (The Economist World, năm 2007 - p.158, 176, 238).

Việt Nam c̣n lẹt đẹt đàng sau rất xa. Và trước bộ mặt thay đổi choáng ngợp nầy - nếu đặt câu hỏi: Ai là chủ nhân của những xe hơi, khách sạn, vũ trường, những thương hiệu lớn, những biệt thự lộng lẫy kia? - th́ câu trả lời không sợ sai lầm là của cán bộ đảng viên CSVN (tại chức hoặc giải ngũ), hoặc con cháu thân nhân của họ. Và ở thôn quê - giai cấp giàu có bây giờ là ai? giai cấp địa chủ là ai? Có phải là do của cải của ông cha để lại hay do sự kinh doanh tự do, mua bán làm ăn mà có?

Hiện Tượng Ngươi Bắc Xă Hội Chủ Nghĩa Chiếm Hữu Toàn Bộ Phố Xá Thương Mại Quan Trọng Ở Sài G̣n - Khống Chế Mọi Lănh Vực Trọng Yếu Ở Miền Nam.

Cho dù núp dưới cái hào quang chiến thắng 'đánh Tây, đuổi Mỹ' - cho dù che giấu, lấp liếm, giải thích thế nào chăng nữa - th́ dân miền Nam (gồm cả Nam lẫn Bắc theo chế độ Tự Do trước 75) vẫn thấy một sự thật. Sự thật đó là người Bắc XHCN tràn ngập, chiếm hữu toàn bộ phố xá thương măi trọng yếu của Sài g̣n. Làm sao nói khác được khi đi một ṿng quanh Sàig̣n và các khu phố sầm uất nhứt vào những hiệu buôn lớn để mua hàng hay hỏi han chuyện tṛ th́ thấy toàn là người Bắc cộng sản - từ cô bán hàng đến bà chủ ngồi phía trong - cũng toàn là người của xă hội chủ nghĩa miền Bắc. Các tiệm buôn lớn trước 75- như các tiệm vàng Nguyễn thế Tài, Nguyễn thế Năng, Pharmacie Trang Hai, tiệm Émile Bodin của bầu Yên, nhà hàng Bồng Lai, Thanh Thế, Nguyễn văn Đắc, Phạm thị Trước... hiện nay, một số đă đổi bảng hiệu hoặc xây cất lại, nhưng đều do người miền Bắc XHCN làm chủ. Các cơ sở khác như nhà hàng ăn lớn, tiệm phở, công ty thương nghiệp, dịch vụ lớn, những tiệm buôn bán dồ nhập cảng v.v.. cũng đều do người Bắc XHCN chiếm giữ.

Tuy không có con số thống kê chính xác nhưng tự ḿnh đi đếm hàng trăm tiệm buôn sang trọng quanh các khu phố lớn ở Sàig̣n th́ khám phá ra được chủ nhân là người Bắc XHCN. (Tất nhiên là vợ con, thân nhân cán bộ lớn). Những cô gái Bắc XHCN bán hàng là con cháu của chủ nhân người Bắc CS (do các cô tự nói ra). Các cô chiêu đăi viên trên phi cơ VNHK đều là người Bắc thân nhân hay con cháu cán bộ - dĩ nhiên - với vẻ mặt lạnh lùng, hách dịch với người Việt Nam và khúm núm lịch sự với khách ngoại quốc... Cán bộ, công nhân viên trọng yếu - cũng đều là người Bắc - trừ một số cán bộ gốc miền Nam tập kết - theo đoàn quân viễn chinh vào đánh chiếm miền Nam - th́ cũng kể họ là người XHCN miền Bắc. Hệ thống quyền lực từ trên đến dưới - từ trung ương đến địa phương - từ tỉnh thành đến quận lỵ, thị trấn, làng xă gần - đều do đảng viên người miền Bắc XHCN - nắm giữ. Những công ty dịch vụ có tầm cỡ, những công ty thương măi sản xuất lớn - điển h́nh là một công ty vận tải và du lịch có đến 6000 xe hơi đủ loại, chủ nhân cũng là người Bắc XHCN. Từ chính trị đến văn hóa, từ giáo dục đến truyền thông, từ nhà cầm quyền cai trị đến chủ nhân cơ sở thương măi, sản xuất - cũng do người miền Bắc XHCN nắm giữ.

Đó là sự thật trước mắt ai cũng thấy. C̣n những vàng bạc, kim cương, đô la, tài sản tịch thu, chiếm đoạt được trong các cuộc đánh tư sản, cải tạo công thương nghiệp - nhà cửa của tù cải tạo, của dân bị đuổi đi kinh tế mới, những tấn vàng của VNCH để lại, những lượng vàng thu được từ những người vượt biên bán chánh thức - tài sản những người thuộc diện tư sản - toàn bộ tài sản nầy từ Saig̣n đến các Tỉnh miền Trung, miền Nam - được đem đi đâu? - Không ai biết.

Thông thường, những của cải nầy phải được sung vào công quỹ, để làm việc công ích như các ông cộng sản thường rêu rao bằng những mỹ từ đẹp đẽ. Thế nhưng - sự thật trước nhứt - là các ông đem chia chác nhau. Chia nhau một cách hợp hiến và hợp pháp theo Luật pháp XHCN (Đọc Đất đai-Nguồn sống và Hiểm Họa của Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang). Ông lớn lấy tài sản lớn. Ông nhỏ - nhà cửa nhỏ. Có ông cán bộ trung cấp chiếm hữu đến 4, 5 căn nhà. Ở không hết đem cho công ty ngoại quốc thuê. Điều phổ biến nhứt là các ông cán bộ nầy - v́ lo sợ cái ǵ đó - bèn đem 'bán non' những căn nhà đó lấy tiền bỏ túi trước. Một căn nhà của một viên chức tù cải tạo đă sang tay đến 3 đời chủ. Nhà cửa thuộc diện tù cải tạo là dứt khoát phải tịch thu - không ngoại lệ. Những trường hợp con ruột có hộ khẩu chánh thức c̣n được phép ở lại - là những biện pháp vá víu. Chủ quyền căn nhà nầy là của nhà nước XHCN.

Không chỉ có những người thuộc diện cải tạo công thương nghiệp, tù cải tạo, vượt biên... mà người dân thường có nhà cửa phố xá cũng đều bị 'giải phóng' ra khỏi nhà bằng nhiều chánh sách: Đuổi đi kinh tế mới, dụ vào hợp tác xả tiểu công nghiệp, mượn nhà làm trụ sở, cho cán bộ vào ở chung rồi chủ nhà chịu không nổi phải bỏ đi, đổi tiền để vô sản hóa người dân, khiến họ bắt buộc phải bán tất cả những ǵ có thể bán để mua gạo ăn, cuối cùng chịu không nổi, phải bán nhà với giá rẻ bỏ để vô hẻm ở, ra ngoại ô hoặc về quê... Cán bộ hoặc thân nhân cán bộ miền Bắc XHCN tràn vào 'mua' nhà Sài G̣n với giá gần như cho không và bây giờ là chủ những căn nhà mặt tiền ở Sài G̣n.

Mang xe tăng T.54, cà nông Liên xô, AK Trung cộng, đẩy hàng hàng lớp lớp thiếu niên 'xẻ dọc Trường Sơn' bằng máu, nước mắt và xác chết... vào xâm chiếm miền Nam. Chiêu bài là 'giải phóng' nhân dân miền Nam - nhưng sự thật khó chối căi được - là vào để chiếm đoạt tài sản, đất đai, của cải, đuổi dân Sài G̣n (gồm cả người Nam lẫn Bắc theo chế độ Tự Do) ra khỏi thủ đô bằng nhiều chánh sách khác nhau - để bây giờ chính các ông đă trở thành những nhà tư bản đỏ triệu phú, tỉ phú đô la, vàng bạc kim cương đầy túi - những ông chủ công ty có tầm vóc, những địa chủ đầy quyền lực. Trương mục ở nước ngoài đầy nhóc đô la. Con cái du học ngoại quốc. (Trường hợp con Thủ Tướng CS Nguyễn Tấn Dũng đang du học Mỹ là trường hợp điển h́nh). Như vậy hành vi nầy gọi là ǵ? Trong những lúc canh tàn rượu tỉnh - một ḿnh đối diện với lương tâm thuần lương của ḿnh - các ông tự gọi ḿnh đi.

Đến thời 'mở cửa' - cơ hội hốt tiền c̣n nhiều hơn gấp bội. Tư bản ngoại quốc ồ ạt đầu tư, khai thác dầu khí, thâu đô la Việt kiều về thăm quê hương - đô la khách du lịch ngoại quốc, bán đất cho Công Ty ngoại quốc xây cất cơ xưởng, cấp giấy phép các công ty ngoại quốc, các dịch vụ đấu thầu xây cất cầu cống, làm đường sá, xây cất đại công tác. Những món nợ kếch xù từ Ngân hàng thế giới, từ quỹ tiền tệ quốc tế - những món nợ trả đến mấy đời con cháu cũng chưa dứt. Những đại công tác nầy mặc sức mà ăn no bóc ké. Nhiều công tŕnh vừa xây cất xong đă muốn sụp xuống v́ nạn ăn bớt vật liệu. Một thí dụ điển h́nh: Một bệnh viện gần chợ 'ủ cua' Long Hồ - quê hương của Phạm Hùng - nước vôi c̣n chưa ráo đă muốn sụp. Hiện đóng cửa không sử dụng được.

Hiện tượng người Bắc XHCN khống chế toàn bộ, làm chủ nhân ông mọi lănh vực, chiếm hữu nhà cửa, phố xá thương măi ở những khu thương măi quan trọng nhứt - là một sự thật không thể chối bỏ. Cán bộ lớn đă trở thành những nhà tài phiệt đầy quyền lực - những ông chủ lớn giàu có nhứt lịch sử. Trong khi dân chúng miền quê - nhứt là miền Nam - ngày càng nghèo khổ, thất nghiệp kinh niên. Khoảng cách giàu nghèo càng lớn - đời sống cán bộ và dân chúng càng ngày cách biệt. Giàu th́ giàu quá sức. Nghèo th́ nghèo cùng cực.

Nhà văn - bác sĩ Hoàng Chính - gọi thời kỳ sau 75 là thời 'Bắc thuộc' - 'Năm Bắc thuộc thứ 2: Lưu vong tại quê nhà trong cái đói lạnh. - Năm Bắc thuộc thứ 6: Cầu cho em nhỏ 10 tuổi đầu đủ cơm ăn giữa bầy thú hát điên cuồng chuyện thù oán. - Năm Bắc thuộc thứ 12: Trong ngục thất quê hương ấy, có những bộ xương thôi tập khóc cười.'
Miền Bắc XHCN đem quân xâm chiếm miền Nam để khống chế nơi đó bằng sự đô hộ hà khắc và tinh vi.

Bộ Mặt Thôn Quê Miền Nam

Có nh́n tận mắt, nghe tận nơi, mới h́nh dung được khuôn mặt miền Nam sau 32 năm dưới chế độ cộng sản. Để được trung thực - người viết ghi những điều thấy và nghe - không b́nh luận - tại những nơi đă đi qua. Thôn quê miền Nam - những làng xóm gần tỉnh lỵ quận lỵ đă có điện. Những làng xă xa xôi hẻo lánh vẫn c̣n sống trong sự tăm tối. Đường xá có tu sửa phần nào. Đường ṃn đi sâu vào thôn xóm được lót bằng những tấm dalle lớn (đường xóm Cái nứa, Cái chuối xă Long Mỹ VL), xe Honda và xe đạp chạy qua được. 'Cầu tre lắt lẻo', cầu khỉ được thay thế bằng cầu ván, cầu đúc (vật liệu nhẹ). Cầu tiêu công cộng trên sông các chợ quận (Cái bè, Cái răng) nay không c̣n thấy nữa. Nhà cửa dọc theo bờ sông Cần Thơ - chen vào những nhà gạch ngói, nhà tôn - c̣n nhiều nhà lá nghèo nàn. Tương tự như vậy - dọc theo bờ sông Long Hồ - một số nhà gạch nhỏ mới cất xen kẽ những mái lá bạc màu. Vùng Trà ốp, Trà cú (Vĩnh B́nh), chợ Thầy Phó (Vĩnh Long) nhiều nhà gạch mới xây nhưng vẫn không thiếu nhà lá, nhà tôn. Đường ṃn chạy sâu vào thôn xóm vẫn c̣n đường đất lầy lội vào mùa mưa nước nổi.

Hai bên đường xe chạy từ Mỹ Tho, Cao Lănh, Châu Đốc, Hà Tiên, Rạch Giá, Cần Thơ. Nh́n chung - có một sự thay đổi rơ rệt. Nhà cửa, hàng quán dầy đặc, động cơ ồn ào, người ta chen chúc. Cảm giác chung là ngột ngạt, khó thở. Những vườn cây xanh um bên đường đă biến mất... hoặc thụt sâu vào trong, không c̣n thấy nữa. Không c̣n vẻ đẹp thiên nhiên ngày nào của vườn xoài cát sai oằn, mát mắt vùng Cái Bè, An Hữu, vườn mận Hồng Đào chạy dài hàng mấy cây số ở Trung Lương.

Dưới sông - từ kinh Vĩnh Tế chảy dài ra sông Tiền Giang - hai bên bờ toàn là nhà sàn, phía sau chống đỡ sơ sài bằng những trụ cây tràm. Mỗi nhà hoặc 2, 3 nhà đều có cầu tiêu tiểu bắc phía sau. Tắm rửa giặt giũ, múc nước lên uống, phóng uế - cũng cùng trên một ḍng sông. Không có ǵ thay đổi. Làng Chàm c̣n gọi là chà Châu Giang cũng c̣n đó. Cũng nghèo như trước. Những chiếc ghe vừa dùng làm nhà ở, vừa là hồ nuôi cá Basa, cá điêu hồng v.v.. ở dọc bờ sông khá dài. Dường như ngành nầy hoạt động khá mạnh. Dọc trên những nhánh phụ lưu của 2 con sông Tiền và sông Hậu - người ta không c̣n thấy bóng dáng của những cô gái thướt tha trong chiếc áo bà ba và chiếc quần lănh Mỹ A, chèo ghe tam bản, bơi xuồng như thời trước 75 nữa. Hỏi một ông già tên Ph. tại Cái Răng, được trả lời: 'Đi lấy Đại Hàn, Đài Loan hết rồi ông ơi!' Tôi hỏi thêm: 'Các cô gái có nghe nhiều người bị gạt bán vào ổ măi dâm, nhiều cô gái bị chồng bắt làm lao động khổ sai, bị ngược đăi, đánh đập... các cô gái nầy không sợ sao ông? - 'Biết hết - mấy cổ biết hết, báo Tuổi trẻ đăng hàng ngày. Nhưng cũng có những cô có chồng Đại Hàn, cho tiền cha mẹ xây nhà gạch. Cô khác thấy vậy ham. Phần nghèo, phần không có việc làm kinh niên. Họ liều đó ông. Biết đâu gặp may.' Câu chuyện gái Việt lấy chồng Đại Hàn, Đài Loan hiện không ai là không biết.

Tờ Tuổi trẻ - số ra ngày mùng 1 Tết năm Đinh Hợi - trong bài: 'Nỗi đau từ những con số'- có nói đến số phận của 65000 phụ nữ đang làm vợ những ông chồng Đài Loan già, tàn tật đui mù, làm vợ tập thể cho cả gia đ́nh cha lẫn con. Cũng do tờ báo nầy viết: 'Tại một tổ chức kết hôn lậu, hàng chục cô gái đang 'bày hàng' để 2 ông Hàn quốc tuyển chọn làm vợ và 118 cô gái khác đang nằm, ngồi, lố nhố chờ đến lượt ḿnh' Và cũng do tờ Tuổi Trẻ số phát hành ngày 25-04-2007, viết: 'Hơn 60 cô gái, tuổi từ 18 đến 20 từ miền Tây Nam bộ lên Saig̣n để dự tuyển. Các chàng rể Hàn Quốc được quyền soi xem kỷ, chú ư đến cả từng vết thẹo trên thân thể cô gái. Dịch vụ môi giới hôn nhân lậu có chiều hướng gia tăng. Chỉ trong ṿng nửa tháng mà công an đă phát hiện 3 vụ môi giới hôn nhân trái phép ở quận 6, 10 và Tân B́nh với gần 400 lượt cô gái hiện diện. Thậm chí - những cô gái được xe ôm chở tới địa điểm dồn dập gây náo loạn cả xóm'.

Người viết có lần lang thang trên đường Nguyễn Tri Phương t́m quán ăn cơm trưa, có chứng kiến tại chỗ: Từng cặp trai gái lố nhố xếp hàng đôi trước cửa một trường học, để lần lượt vào trong. Hỏi một người trung niên lái xe Honda ôm, được anh trả lời: 'Đó là những người con gái đi lấy chồng Đài Loan và Đại Hàn. Hàng bên trong là những người đang làm thủ tục xuất ngoại theo chồng. Hàng bên ngoài là những người đang vào kư giấy hôn thú sau khi đă qua các cửa ải môi giới và thủ tục tuyển lựa'. Tôi nh́n kỹ các cô gái nầy tuổi rất trẻ khoảng chừng 18 đến 20... đứng cặp với những anh Tàu già sồn sồn - có một người tàn tật. Không thấy có thanh niên trẻ. Nh́n cách ăn mặc và nghe họ nói chuyện - tôi đoán chừng họ đến từ miền Tây Nam Bộ. Đây là tổ chức môi giới chánh thức có giấy phép hành nghề.

Song song với tổ chức chánh thức, c̣n có một tổ chức 'môi giới hôn nhân lậu' - sự thật là một tổ chức buôn người, chuyên đi dụ dỗ trẻ em và gái, nói gạt là đi bán hàng hay đi làm việc tại các cơ xưởng ngoại quốc nhưng là để bán thẳng vào các ổ măi dâm ở Kampuchia, Thái Lan, Ma Cau... để nơi đây huấn luyện trẻ em làm nô lệ t́nh dục, các cô gái làm điếm, hoặc bán cho người Tàu bỏ tiền ra mua nô lệ. Tất nhiên là phải có sự tiếp tay che chở ăn chia của Công An. Nói là lậu nhưng thật ra là nhan nhăn xảy ra hằng tuần - thậm chí hằng ngày trước mặt dân chúng tại các quận B́nh Thạnh, quận 11, Sàig̣n.

Cho dù chánh thức hay lậu, hậu quả cũng gần giống nhau. Chánh thức th́ có giấy phép, có công an làm thủ tục, chánh phủ thu tiền lệ phí. Lậu th́ lén lút với sự che chở của Công An. Hậu quả giống nhau, nhiều cô gái về làm vợ mấy tên Đài Loan, Đại Hàn bị ngược đăi, đánh đập tàn nhẫn - ban ngày làm nô dịch, ban đêm phục vụ t́nh dục, rồi bán vào động măi dâm lấy tiền gỡ vốn lại. (Trại cứu giúp nạn nhân của cha Hùng ở Đài Bắc là một bằng chứng). C̣n lậu th́... bán thẳng vào ổ điếm. Biết bao nhiêu thảm cảnh, biết bao nhiêu bi kịch thương tâm làm rúng động lương tâm nhân loại. Cựu Quốc Trưởng Sihanouk không giấu được nỗi xót xa trước thảm cảnh người phụ nữ Miên làm vợ mấy thằng Tàu đă từng lên tiếng kêu gọi họ trở về nước. Không thấy Việt Nam nói nửa lời! Những cô gái nầy có biết những thảm kịch đau thương, những sự hành hạ, ngược đăi, đánh đập nầy khi lấy chồng Đài Loan, Đại Hàn không? Có bị cưỡng bức, bị dụ dỗ hay tự nguyện? Cha mẹ có đồng ư hay cản trở? Nguyên nhân nào đă thúc đẩy họ dấn thân vào con đường hiểm nguy, tương lai mù mịt?

Trừ những trường hợp bị dụ dỗ qua đường dây buôn người - những người con gái này thật sự là họ tự nguyện. Họ c̣n phải vay tiền mua sắm, ăn diện, hối lộ để được giới thiệu. Nhưng nguyên nhân nào thúc đẩy họ đi lấy chồng Đài Loan, Đại Hàn?

Có thể có nhiều nguyên nhân phức tạp. Phó thường dân tôi chỉ đưa ra vài nhận định thiển cận như sau: Quá nhiều chương tŕnh ngăn chống lũ lụt, chương tŕnh công nghiệp hóa, đô thị hóa bừa băi, không được nghiên cứu cẩn trọng, đất đai canh tác bị thu hẹp. Dân số gia tăng. Khối lượng đông đảo người miền Trung, Bắc XHCN tràn vào, nông dân miền Nam thiếu đất canh tác. Các cô gái miền Tây quẫn bách v́ không có việc làm kinh niên - cuộc sống vô vọng mịt mờ - có nhiều trường hợp bị thúc đẩy v́ cha mẹ mắng nhiếc, đay nghiến khi so sánh con gái ḿnh với cô con gái làng bên có chồng Đại Hàn mang tiền về xây nhà gạch cho cha mẹ.Và cũng v́ hấp thụ một nền giáo dục của chế độ CS (sinh sau 75), những người trẻ tuổi không có ư niệm về luân lư đạo đức cũ..., thang giá trị bị đảo lộn nên họ không đặt nặng danh dự, sĩ diện như thời trước... Do vậy - khi bị dồn vào đường cùng, họ đành đánh liều nhắm mắt đưa chân... Nhưng động lực chánh là nghèo.

Nghèo...

Là nguyên nhân chánh đưa đẩy các cô gái miền Tây Nam Bộ đi lấy chồng Đại Hàn và Đài Loan... là để hy vọng thoát khỏi cảnh đời cơ cực, vô vọng không lối thoát. Thế nhưng tại sao đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) - vựa lúa nuôi sống cả nước - sau 32 năm dưới chế độ CS lại trở nên nghèo như vậy, nghèo hơn cả đồng bằng sông Hồng (ĐBSH)? Theo tiêu chuẩn nghèo từng vùng của Tổng cục thống kê CS Việt Nam - th́ tỷ lệ ĐBSCL năm 1998: ĐBSC: 37%. ĐBSH: 29%. Năm 2002: ĐBSCL: 13 %. ĐBSH: 9%. (Nhà x.b Thống kê - Hànội, trang 13 - LVB trích dẫn).

Dù theo tiêu chuẩn nào: tiền tệ (tính bắng tiền hay bằng gạo) - mức sống (bao gồm lương thực, nhà ờ, mức sống văn hóa) - ĐBSCL vẫn nghèo hơn ĐBSH - bởi lẽ khi nghèo về lương thực th́ khó có thể giàu về nhà ở và đời sống văn hóa.

Đó là cái nghèo mà anh Lâm văn Bé đă nh́n qua những con số có giá trị của những chương tŕnh nghiên cứu thống kê khoa học. Và sau đây là cái nghèo miền Nam qua cái nh́n tận mắt, nghe tận nơi của người viết: Cái nghèo ở Việt Nam bao gồm cả thành thị lẫn thôn quê là cái nghèo thiếu trước hụt sau, ăn bữa sáng lo bữa chiều - cái nghèo của một nông dân, nhà dột nát, khi trời mưa lúc ban đêm không có chỗ để nằm phải t́m một góc nhà, phủ cái mền rách lên người ngồi run cằm cặp trước từng cơn gió lạnh buốt lùa vào căn nhà trống hốc... Cái nghèo của một người đi mượn tiền, mượn gạo tới ngày hẹn không tiền trả. Cái nghèo của một thanh niên thất nghiệp cha bị lao phổi không tiền mua thuốc nằm ho sù sụ, mẹ bơi xuồng đi bán bắp nấu không đủ gạo cho một đàn con 4 đứa, mũi dăi ḷng tḥng đang bốc đất cát chơi ngoài sân.

Tục ngữ b́nh dân có câu: Ít ai giàu 3 họ, khó 3 đời. - Có. Tôi quen biết ông Sáu S. làm nghề chài lưới ở sông Long Hồ. Đời con là anh Tư Te tiếp nối nghề nầy: nghề đi nhủi tép. Và trên bờ sông Long Hồ năm nay (2007) tôi thấy vợ chồng một cậu thanh niên tên M. vừa cặp xuồng vào bến, đem miệng nhủi c̣n dính đầy rong rêu phơi trên mái nhà lá đă nhuộm màu thời gian bạc thếch. Hỏi thăm th́ té ra là con của Tư Te. Đời ông nội - nghèo! Đời cha nghèo! Đời cháu cũng nghèo! Khó 3 đời đó. Cộng Sản đổi đời cho người giàu thành nghèo - không đổi đời cho người nghèo thành giàu được. Người nghèo vẫn tiếp tục nghèo.

Nói chung th́ nông dân Việt Nam chiếm 85% dân số mà đất không đủ để canh tác - c̣n công nghiệp không có khả năng biến nông dân thành thợ thuyền, trong khi dân số lại gia tăng quá tải. Cho nên thất nghiệp không thể tránh. Nghèo là hiện thực. Tiến sĩ Lê đăng Doanh trong một bài phổ biến trên mạng, viết: 'Nông dân đă nghèo, đất đă kém đi, nhưng mỗi năm thêm 1 triệu miệng ăn, lấy đâu ra mà ăn. Lao động vất vả mỗi ngày trên 8m vuông đất th́ lấy ǵ mà giàu có được? '

Kinh tế Việt Nam - trong đó có miền Nam - có chút tiến bộ - so từ thời kỳ bao cấp đến thời kỳ mở cửa. Nhưng chỉ là tiến bộ với chính ḿnh. Đối với các nước khác trong vùng th́ c̣n lẹt đẹt cầm lồng đèn đỏ đi sau... Và điều quan trọng là sự phát triển nầy có đem lại phúc lợi cho dân chúng qua sự tái phân lợi tức quốc gia, để tài trợ các chương tŕnh y tế, giáo dục - các chương tŕnh tạo công ăn việc làm, phát triển nông nghiệp, xây dựng hạ tầng cơ sở hay không? Hay là phát triển bằng những con số báo cáo rỗng tuếch? Lợi tức tạo được đă bị cả hệ thống của những con virus tham nhũng đục nát cơ thể. Và hiện tại - muốn phát triển công nghiệp - nhà cầm quyền địa phương - theo lệnh Đảng - mở rộng khu công nghiệp, khu du lịch, đă quy hoạch lấy đất, phá mồ phá mả, chiếm nhà dân một cách bạo ngược. Ḷng dân phẫn uất, kêu la than khóc. Oán hận ngút trời xanh! (19 Tỉnh miền Nam đă biểu t́nh khiếu kiện trước trụ sở quốc hội 2 Sàg̣n). Như vậy có gọi là phát triển không?

Kết Luận

- 32 năm nh́n lại: Người ta thấy miền Bắc đă 'giải phóng' dân Sàig̣n ra khỏi đất đai, nhà cửa của họ. Họ phải rút vô hẻm, ra ngoại ô hay về quê bằng nhiều chánh sách khác nhau. 'Giải phóng' miền ĐBSCL ra khỏi sự trù phú do thiên nhiên ưu đăi từ nhiều thế kỷ. 'Giải phóng'quân nhân, viên chức chế độ cũ ra khỏi nhà, để đưa họ vào các trại tù cải tạo hoặc đẩy họ ra biển...'Giải phóng' phụ nữ miền Tây, để họ được tự do đi làm 'vợ nô lệ', đi làm điếm ở Kampuchia, TháiLan...
- 32 năm nh́n lại: Người ta thấy Việt Nam trở lại thời kỳ mua bán nô lệ như thời Trung cổ. Phụ nữ Việt Nam bị bán đấu giá trên E-bay Taiwan website (2003) - bị trưng bày trong lồng kính, cũng để bán đấu giá như một con vật ở Singapour (2005). Chỉ trong năm 2005 - có khoản 400.000 phụ nữ và trẻ em bị bán ra ngoại quốc. (Theo UNI CEF - LHQ và Bộ Tư Pháp Việt Nam).
- 32 năm nh́n lại: Mượn lời nhà báo Claude Allegre, báo L''expresse ngày 29-8-2002: 'Người ta không thể cho qua một cách im lặng những Khơ me đỏ, những trại tập trung ở Cambodia và những cuộc tàn sát man rợ ở đó. Và Việt Nam không được biết đến như là một chế độ nhân đạo hơn. Dưới cái cớ là dân tộc can đảm nầy đă chiến thắng các siêu cường quốc - người ta đi đến chỗ quên đi một nền độc tài đẫm máu đang thực thi trên xứ sở đó'.
- 32 năm nh́n lại: Miền Bắc XHCN rơ ràng đă thiết lập một nền đô hộ miền Nam - khắc nghiệt, tinh vi hơn cả thời Pháp thuộc.

Và điều quan trọng trên hết là Việt Nam đang đứng trước hiểm họa mất nước. Một đảng viên kỳ cựu của chế độ Cộng sản đă lên tiếng cảnh cáo: 'Việt Nam đang đứng trước hiểm họa mất nước. Mất cả đất đai, sông núi và dân tộc Việt Nam sẽ trở thành một tỉnh lẻ của Tàu'.

Nguyễn Văn Trấn

 


B̀NH LUẬN

Tranh quyền đoạt lợi
Làm từ thiện - Nên hay không

Thôi rồi... 
Chuyện biển đông 
Quả đại pháo cuối cùng  
Biển Đông dậy sống  
Vụ HD 981: Việt Nam xem xét quan hệ chặt chẽ hơn với Hoa Kỳ
Thư trả lời một bạn Du Học Sinh....
Gửi các anh Quân Nhân QLVNCH đang ảo tưởng
Tổ Quốc muốn ta phải kiên cường
Đừng mắc mưu bọn Việt cộng....
Việt Cộng – Việt Cộng  
Một âm mưu thâm độc của Việt Cộng 
Họ là “ngụy”, ta là ǵ?  
Việt cộng hóa

Kinh nghiệm tạo ra kinh nghiệm
Những sự thật cần phải biết
Giọt nước mắt cho quê hương
Vơ Thị Thắng và Nguyễn Phương Uyên, bóng tối và ánh sáng
Muốn Việt Cộng sớm sụp đổ
Tổ Quốc Việt Nam - C̣n hay đă mất?
Đồng chí Ếch dốt chính tả
Đứng chàng hảng 
Thời sinh viên ở Sài G̣n  
Hăy nói trước ngày chết  
Chuyện cái sổ hưu
Thật giả, giả thật
Bất an
Nhận định về cuộc bầu cử Tổng Thống Mỹ 2012
Thế hệ của tôi – một thế hệ vứt đi
Người CS - Cộng sinh hay kư sinh
Miền Nam sau 37 năm dưới chế độ CS
Lẳng lặng mà xem...
Chủ nghĩa tư bàn và chủ nghĩa tư bản đỏ
Không có gí quư hơn độc lập con c...
Bản án chế độ cộng sản VN
Phản hồi về bài báo "Hành động lố bịch" trên báo QĐ...
Thân phận một tù nhân chính trị VN bi quên lăng
Hơi ấm non sông
Mẹ kiếp: Đứa nào bán nước?
Thêm lần nhắc nhớ
Hào khí Việt Nam – Đáp lời Sông Núi!  
Nhân ngày Quân Lực 19 tháng 6...  
Hai câu chuyện phụ nữ Việt Nam
Tương lai nào cho đảng cộng sản VN?
Anh hùng dân tộc
Thiên tài đảng ta
Ngọc ở trong nhà
Băi nhiệm và bất tín nhiệm
Ngày phán xét sẽ đến
Thân phận "cử tri" và "Đại biểu Nhân dân" ở Việt Nam
Sức mạnh của Cộng Đồng người Việt Quốc Gia hải ngoại  
Giữa Đạo và Đời
Tiên lăng - Chuyện không đơn giăn
Triệu con tim, c̣n triệu khối kiêu hùng
Độc quyền đẻ ra đặc quyền
Những viên Đạn Hợp Âm
Đảng là tên đầy tớ phản phúc!
Cơn băo lốc
Kẻ thù nguy hiểm chính là thành phần đánh phá cộng đồng
Xuân quê hương
Nhân quyền trong rừng luật
Nhận lầm đồng hương
Vô tôn giáo
Bạo lực của cường quyền: Xưa và Nay
Nhân quyền trong rừng luật
Những người "vọng quốc"
Chó sói gởi chân
Làm thế nào để giành lại tự do?
Thử cho biết
Tin nhà nước !
Thế chân hạc mới tại Á Châu
Thời anh hùng
Đỗ Thị Minh Hạnh - Giọt nước hay mảnh thuỷ tinh
Tuyển dụng nhân tài
Nghề bán nước
Đạp vào mặt lịch sử
Cái giá của độc lập và tự do
Thêm một chiến sĩ đấu tranh bị cầm tù
Thằng dân
Người lính VNCH & vành khăn tang Tổ Quốc
Nhận định t́nh h́nh đất nước hiện nay
Núm ruột quê hương
Dép râu và nón cối của bộ đội Việt Cộng
Khủng bố: Xưa và nay
Lại viết về nổi bất hạnh của QLVNCH
Bài học 30 tháng 4
36 năm Quốc hận nghĩ về tâm trạng của tù nhân chính trị
Những ngộ nhận lịch sử
36 năm Quốc hận tôi nghĩ ǵ?
Nhớ lại nỗi bất hạnh của QLVNCH
Quốc gia thua để thắng, cộng sản thắng để thua
Chiến sĩ VNCH được giải ngũ chưa?
Người lính VNCH
Sáng mắt ra chưa?
Trí tức thổ tả
Giă từ Thiện và bệnh Mù Loà
Triển vọng chiến thắng công sản của người Quốc Gia
Tôi là ai? Việt hay Mỹ?
Xuống đường
Nằm Vùng? Ai? Ở Đâu?  
Lộn xộn tiếng Việt thời giao lưu văn hóa ở Việt Nam
Mậu Thân, Anh c̣n nhớ hay đă quên ?
Thiên đàng XHCN
Từ Tunisia, qua Yemen, đến Ai Cập, bao giờ đến công sản Việt Nam ?
Đàn cá trong ao bác Hồ và những con chó của Pavlov
Ṭm tem...
Thư gửi Nguyễn Đắc Xuân
Về chuyện “trong sáng hóa” tiếng Việt...
Tự điển
Văn hoá và con người
Chuyến xe buưt và khúc hát người lính mù  
Vài suy nghĩ về biểu t́nh chống văn hóa vận tại Melbourne
Những kẻ thầy đời
Nhạc lính
Tin và không tin trong xă hội VN
Khi bài hát trở về
Từ buổi chiều trên nghĩa địa Hàng Dương
Ḷng dân đang chuyển ?
Tứ Bất Tận - Tứ Bất Năng
Lê Thị Công Nhân
Nh́n lại đống rác lịch sử đánh Mỹ cứu nước của csvn
34 năm sau, họ là ai ?
Nh́n Tây Tạng thấy Việt Nam
Chuyện đời...
Đặc công văn hoá miền Nam
Bài viết từ một người SG
Thư ngỏ gửi những người trí thức mê sảng...
Tội nghiệp đất nước tôi
Thời thế mới, đấu tranh mới...
Bao giờ dân Việt trở thành thiểu số trên chính quê hương ḿnh
Nói với các con tôi
Phiên phiến tuổi già
Hành vi nhỏ... dă tâm lớn
Gà trống và cáo
Xin đừng lăng quên nhà dân chủ trẻ Lê Trí Tuệ
Thảm trạng người Việt tỵ nạn tại Cam-bốt
Sao anh nỡ đành quên
Thế hệ già hải ngoại nên nh́n lại
Khiếp nhược: Nhục và hèn
Tiếng nói từ Mộ Đức
Từ tiếng súng Trần Văn Bé Tư
Ca rao thời đại hcm
Những vần thơ chui
Lê Thị Công Nhân - Người con cưng của ...
Cũng bởi thằng dân ngu
Chống VC hay TC?
Cái Làn và cái L...
Trông thấy vậy mà không phải vậy
Thèm
Hăy vất bỏ khối nặng của tính ác và sự xấu
Chọn lựa
C̣n cờ đỏ sao vàng th́...
Đừng măi lợi dụng "nỗi đau da cam"...
Lạ và nhạy cảm
Chân dung người vợ lính
Việt Nam lâm nguy
Gịng sông Bến Hải vẫn c̣n
Giáo dục VN, tội ác băng hoại xă hội
34 năm nh́n lại cuộc chiến chống csVN
Nay anh, mai tôi
Chiến dịch hoa hồng đỏ của csVN
Đêm nhớ về anh
Nhớ Vơ Hoàng
Cái miệng
Từ Lê Văn Thinh đến Nguyễn Cung Thương
Chuyện phải viết
Vất chanh bỏ vỏ
Tổ Quốc - Danh Dự - Trách Nhiệm
Mối nhục của một quốc gia
Lá Cờ
Mơ ước của tôi
Chim hạc và chó săn
Tường tŕnh 10 điểm, Đạo đạt lên LHQ
NK Đặng Thuỳ Trâm - Sản phẩm dối trá ...
Tóm tắt một số tội ác cs VN
Sự thực về cái gọi là "Đại thắng mùa Xuân
Bọn cs sợ quan thầy ...
Xin hăy cứu lấy Tổ Quốc
Tâm t́nh gửi đến anh chị CQN QLVNCH
Đỉnh cao cháy rụi
Mậu Thân, anh c̣n nhớ hay đă quên
Cảnh giác âm mưu "tẩy nảo" của Casula Powerhouse
Bệnh "dại" của người Việt
Chuyện Nguyễn Thái Hoàng
Niềm kiêu hănh của người Việt
Chiến dịch "tháng Tư đen"
Tổng phản công nghị quyết 36
Kép độc cứu nguy
Thăm nom và săn sóc nhau lúc c̣n sống
Giặc từ thiện
Tiền nhân...
Những ám ảnh khó tẩy xóa
Tính hay quên của người Việt tỵ nạn cs
Món nợ nên ghi nhớ
Nên đầu tư cho thế hệ trẻ
Mẹ Âu Cơ - Tiếng thở dài và niềm an ủi
Trăm trứng trăm con - Một truyền thuyết
Hai h́nh ảnh - Một sự so sánh
Ông Kỳ "Xuống Cấp"
Tôi thấy và nghe được ǵ ở Sài-G̣n ...