Những bài viết của Bất Khuất

Tập Truyện Thuyền Đời  
Passage to Freedom
Thuyền Đời - Đêm vẫn đen Audio
Đất nước tôi!
C̣n nhớ mùa xuân  
Tết  
Thuyền Đời - Cuộc đời Audio
Thuyền Đời - Con thuyền Audio
Thuyền Đời - Xuân quê hương Audio
Ḍng sông quê hương - Ḍng Cửu Long  
Ngày oan trái! - Audio
Đất nước tôi - Audio
Khi người tù trở về
Tiếng trống Mê Linh - Audio
Chuyện cuối năm - Audio
Màu áo cũ - Audio
Mang theo quê hương  - Audio
Trong âm thầm c̣n nhớ ai! - Audio  
Sài G̣n là đây sao em! - Audio
Chuyện trăm năm - Trên quê hương - Audio
Chuyện trăm năm - Một ngày - Audio  
Trăm đắng ngh́n cay - Audio
Chiếc áo Bà Ba - Audio
Giữa đồng xưa - Audio
Áo trắng - Audio
Gửi nơi cuối trời - Audio
C̣n nhớ mùa xuân - Audio
Từ một chuyến đ̣ - Audio
Dêm thánh vô cùng - Audio
Khi mùa đông về  - Audio
Noel năm nào - Audio
Khúc quân hành - Audio
Cho ngàn sau - Audio
Ngh́n trùng xa cách  -  Audio
Rồi lá thay màu - Audio
Con chim biển 3 - T́m về tổ ấm - Audio
Con chim biển 2 - Trên biển khơi - Audio  
Con chim biển 1 - Tung cánh chim - Audio
Đốt sách ! - Audio
Đi học  
Sài G̣n - Audio
Thầy Chín - Audio
Đi buôn - Audio
Khi tôi về - Audio  
Làng tôi - Audio 
Sao em không đến - Audio  
Anh đi!  - Audio  
Vỉa hè đồng khởi - Audio
Ngày đại tang  
Chuyện mất chuyện c̣n  
Con chim Hoàng Yến - Audio 
Nhớ cả trời Việt Nam
C̣n thương quê hương tôi
Tôi muốn mời em về
Chuyện Tết
C̣n nhớ không em?
Trên đồi Tăng Nhơn Phú - Audio
Remember!
Cánh chim non - Audio
Đốt sách
Buổi tựu trường
Đêm trắng
Nước mắt trong cơn mưa   
Trăm đắng ngh́n cay  
Con đường tôi về
Hăy c̣n đó niềm tin
Chiều ra biển  
Những đứa con đẽ muộn  
Một thời kỷ niệm  
Băi tập
Bước chân Việt Nam
Người lính già
Để nhớ
Đi buôn  
Ngày anh đi  
Kỷ niệm xưa
Rồi tết lại đến
Bài thánh ca buồn
Tears of pride  
We remember
Vui - Buồn … Ngày hội ngộ 44 năm khoá 8B+C/72  
Mùa hè đỏ lửa  
Dư âm ngày hội ngộ 44 năm tại California  
Có chuyến bay  
Lời ca
Quỳnh Hương diển tích
Để nhớ để quên
Cờ ḿnh!
Khắc chữ Tự Do
Mai cai hạ  
Củ khoai ḿ
Khinh Binh 344
Tết


 

 


 

 

 

 

 

 

 

HỒI KƯ CỦA MỘT NGƯỜI CON GÁI ĐẤT BẮC TẠI SÀI G̉N TRƯỚC 1975

 

Năm 1954 – 1960

Ngày ấy tôi c̣n bé lắm. Lênh đênh trên chuyến tàu cuối vào Nam theo cha mẹ chứ chẳng biết ǵ. Chuyến đi êm đềm không ǵ đáng nói. Tôi thấy người Pháp cũng đàng hoàng. Th́ đâu chả thế. Cũng có người này người kia. Người hèn nhát, kẻ can đảm. Người quá khích, kẻ trung dung. Người Pháp trên tàu tử tế. Họ cho ăn uống đầy đủ. Tôi không hiểu tại sao họ phải tốn đủ thứ để đưa người di cư vào Nam. Nếu họ cứ mặc kệ th́ không biết số dân Bắc có đến được miền Nam dễ dàng không…

Đầu tiên chúng tôi cặp bến Vũng Tàu. Rồi xe đưa vào Sài G̣n. Chúng tôi ở tạm tại Nhà Hát sau này được sửa thành Ṭa Quốc Hội, mấy hôm sau th́ phân tứ tán. Chính phủ trợ cấp cho mỗi đầu người là bao nhiêu đó, tôi không nhớ v́ quá bé.

Nơi tôi ở đầu tiên là Cây Quéo, đường Ngô Tùng Châu. Gia đ́nh tôi là người Bắc đầu tiên đến đây. Sau này đọc truyện và biết con trai Bắc hay bị con trai Nam uưnh và xỏ xiên: “Bắc kỳ ăn cá rô cây”… Không rơ có đúng không, nhưng gia đ́nh tôi hên. Nơi xóm nhỏ, người Nam thật thà đôn hậu. Họ cư xử tử tế với chúng tôi. Đôi khi tôi lẩn thẩn nghĩ, hay v́ gia đ́nh tôi là nhà giáo? Tinh thần tôn sư trọng đạo đă ăn sâu trong gịng máu dân Việt? Họ rất tôn trọng và lễ phép đối với cha mẹ tôi. Một điều “thưa ông giáo”, hai điều “thưa bà giáo”…

Con đường đến trường tiểu học thật dễ thương. Ngày ấy chúng tôi đi bộ nhiều, chẳng vù vù xe máy như bây giờ. Đi bộ đến trường thật vui. Cứ tung tăng chân sáo, vừa đi vừa hái hoa bắt buớm. Ôi sao ngày đó Sài G̣n nhiều hoa bướm thế! Hai bên đường những hàng rào hoa dâm bụt đo đỏ xinh xinh. Nh́n vào trong, nhà nào cũng có vườn, cây cối xum xuê. Bướm bay la đà. Những con bướm đủ màu sắc, nhưng bướm vàng nhiều nhất. Nếu nh́n riêng th́ bướm vàng không đẹp nhưng khi bay lượn giữa rừng lá xanh th́ đàn bướm vàng thật duyên dáng. Chúng như một nét điểm xuyết cho bức họa hoa lá… Tôi thích nh́n bướm bay, tôi thích ngắm hoa nở. Trường học to vừa phải, lớp học đủ ánh sáng. Mỗi sáng thứ hai chào cờ, đứng nghiêm và hát quốc ca: Này công dân ơi, đứng lên đáp lời sông núi… Ừ th́ thanh niên luôn được dạy dỗ là “đáp lời sông núi”.

Chúng tôi được học những bài công dân giáo dục đầu tiên và chúng đă ăn sâu măi vào tiềm thức. Đủ biết các cụ nói uốn cây khi chúng c̣n non là đúng. Tuổi ngây thơ coi những lời thầy cô là khuôn vàng thước ngọc:

Không phá của công
Không xả rác ngoài đường
Phải nhường ghế cho người lớn tuổi, phụ nữ có thai trên xe buưt
Phải dắt em bé hay cụ già qua đường
Phải ngả nón chào khi xe tang đi qua
Không gian lận. Nói dối là xấu xa…
Chúng tôi đă được dậy như thế đó và chúng tôi đă làm theo như thế đó. Ôi Sài G̣n của tôi ơi, bây giờ tôi đi giữa phố phường mà lạc lơng vô cùng khi chỉ ḿnh tôi ngả nón chào người chết hay chạy nép vào lề nhường cho xe cấp cứu đi qua!

Rồi những bài học thuộc ḷng rất giản dị dễ nhớ:

Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Hay:

Những buổi sáng vừng hồng le lói chiếu

Trên non sông làng mạc ruộng đồng quê

Chúng tôi ngồi im lặng lắng tai nghe

Tiếng thầy giảng khắp trong giờ quốc sử…

Sung sướng quá, giờ cuối cùng đă điểm

Đàn chim non hớn hở dắt tay về

Chín mươi ngày vui sướng ở đồng quê…

Cuộc sống sao êm đềm và thanh b́nh quá! Không có những cư.ớp bóc lớn lao. Ăn cắ.p v.ặt cũng không ghê gớm. Tôi c̣n nhớ phơi quần áo trước nhà rất an toàn chẳng phải trông chừng…

Tôi c̣n nhớ ruộng miền Nam nhiều nơi không chia bờ rơ rệt. Tôi c̣n nhớ cây trái Lái Thiêu không vạch lối ngăn rào. T́nh hàng xóm là tất cả. Khi chia rào, ngăn lối là xúc ph.ạm. Tự người dân quê biết đâu là đất là vườn của ḿnh. Vào vườn Lái Thiêu cứ tha hồ ăn. Chỉ khi mua về mới phải trả tiền. Ôi sao ngày ấy người ta hiếu khách và cuộc sống thanh b́nh đẹp đẽ quá! Có phải là một phần nhỏ thiên đường nơi hạ giới chăng? Tôi nhớ nhiều về Lễ Quốc Khánh đầu tiên năm 1956 th́ phải, đúng là lễ hội. Pháo hoa tưng bừng và người người ra đường trong hớn hở reo vui. Không ch.ửi bới, không ch.à đạ.p, không gi.ành đường xem lễ… Sài G̣n bấy giờ c̣n thênh thang lắm. Sài G̣n bấy giờ chưa đông đúc bon chen…

Ngày ấy các bà Bắc hay Trung đi chợ c̣n mặc áo dài. Lề thói xưa c̣n ăn trong nếp ấy. Ra đường là phải lịch sự. Khi lễ lạc th́ phải mặc quần đen với áo dài chứ không được quần trắng v́ như thế là thiếu lễ… Tôi c̣n nhớ một gia đ́nh trung lưu là đă có thể thuê người làm. Đa phần người làm là các cô gái miền Trung. Đúng là quê hương em nghèo lắm ai ơi! Đất khô cằn sỏi đá đă khiến bao cô gái quê vào miền Nam giúp việc. Thuở ấy người miền Nam hay dùng từ “ở đợ”, c̣n người Bắc gọi là “người làm”. Các chị giúp việc thường rất trung thành và lễ phép với chủ nhà, các cô cậu con chủ nhà cũng được tôn trọng.

Bà chủ thường ở nhà v́ nhà nào cũng khá đông con. Ban đầu th́ ba, bốn và sau thành sáu. Tôi c̣n nhớ lương giáo sư đệ nhị cấp tức dạy từ lớp đệ Thất đến đệ Nhất của cha tôi là 5.200 đồng, vợ được 1.200 đồng và mỗi con là 800 đồng (không hạn chế số con). Tô phở khá ngon là năm đồng. Coi như lương giáo sư là 1.040 tô phở. Lương người giúp việc là 300 đồng. Lương Bộ trưởng gấp 5 lần lương giáo sư, vào khoảng 25.000 đồng. C̣n lương Đại úy th́ bằng lương giáo sư. Nếu bây giờ 7.000 đồng tô phở b́nh dân th́ lương của giáo viên cấp ba phải là 7.000.000 đ.

Hồi đó chúng tôi thi một năm hai kỳ gọi là đệ nhất và đệ nhị lục cá nguyệt. Đề thi hoàn toàn do giáo viên (cấp tiểu học) hay giáo sư phụ trách ra đề. Hồi đó không có nạn các giáo sư hay giáo viên kéo tṛ về nhà dậy kèm hay bán đề thi. Đơn giản có lẽ v́ đồng lương đă đủ sống nên họ không phải bán rẻ lương tâm. Cuối năm lớp Nhất th́ chúng tôi phải thi bằng Tiểu Học. Sau đó thi vào đệ Thất các lớp trường công. Ai rớt th́ học trường tư. Tất nhiên phải học giỏi mới thi vào được những trường công danh tiếng như Gia Long, Trưng Vương, Petrus Kư, Chu Văn An. Những tháng ngày tiểu học với tôi là tung tăng chân sáo, là chơi nhiều hơn học, là hái hoa bắt bướm, là nhảy ḷ c̣, là chơi giải ranh, chơi ô quan. Đúng ba tháng hè là chơi thoả thích… Ôi chơi chơi… sao mà thú vị thế! Nhớ đến tiểu học của con gái ḿnh, tôi lại xót xa. Học quá nhiều để có thành tích cho thầy cô, cho trường lớp… và con gái tôi không bao giờ biết đến “chín mươi ngày vui sướng ở đồng quê”.

Năm 1960 – 1967

Đậu tiểu học xong tôi thi hai trường Marie Curie và Gia Long. Lẽ ra phải thi Trưng Vương mới đúng nhưng không biết sao cha tôi quyết định vậy. Những ngày đầu đi học Gia Long xúng xính đầm. Cha định cho tôi học Marie Curie nhưng phút chót lại chuyển sang Gia Long. Số tôi hên. Cô gái Bắc kỳ lạc lơng giữa rừng nữ sinh Nam kỳ mà không hề bị chia rẽ hay kỳ thị, hệt như ngày xưa, người dân Sài G̣n đă cưu mang gia đ́nh tôi ở Cây Quéo. Từ thầy cô đến bạn bè, chẳng ai thắc mắc v́ sao tôi mặc đầm.

Tôi học sinh ngữ Pháp văn. Trường có bảy lớp Anh và bảy lớp Pháp. Tôi học đệ Thất 14, lớp chót. Những năm đầu trung học tôi đi xe đưa rước của trường. Thế là hết những ngày chân sáo, hết những ngày đuổi bướm bắt hoa. Chỉ c̣n ngồi trong xe hiệu đoàn ngắm phố phường qua khung cửa sổ. Xe trường đưa các nữ sinh lớp sáng về nhà và trên đường đi rước các nữ sinh lớp chiều. Trong khi chờ đợi xe đến đón, tôi thường cột áo dài và trèo lên cây trứng cá trước nhà để hái trái nhâm nhi ăn chơi hay đem vào lớp cho bạn. Nghe tiếng c̣i xe ngoài đường th́ tụt xuống xách cặp chạy ào ra. Nhà xa nên tôi bị đón sớm và về muộn.

Bây giờ nhớ lại thuở cột áo leo cây thấy vui vui… khi vào trường cũng cột tà áo để nhảy ḷ c̣. Trường Gia Long rất đẹp! Trường thật đồ sộ, bốn phía là bốn con đường. Ngày ấy chính phủ đặt tên đường có chủ đích rơ ràng. Đặt theo từng vùng các danh nhân văn vơ, không đặt lộn xộn lung tung. Gia Long của tôi đă được bao quanh bởi các danh nhân văn chương như Bà Huyện Thanh Quan, Phan Thanh Giản, Đoàn Thị Điểm và Ngô Thời Nhiệm. Chính giữa trường là con đường tráng nhựa thật đẹp và chúng tôi hay gọi đùa là đường Bonard. Giờ ra chơi các nữ sinh dắt tay nhau thơ thẩn trên con đường ấy trông thật dễ thương. Rồi gia đ́nh tôi chuyển sang Vạn Kiếp. Trước nhà có một bụi tre và đối diện là khoảng vườn mênh mông của chủ đất với những cây cau thẳng tắp .

Năm 1960 có nghe tin về “Mặt Trận Giải Phóng”… ǵ đó nhưng tôi chẳng quan tâm. Thứ nhất c̣n bé phải lo học, thứ hai mọi cái lúc bấy giờ đă được chính phủ đưa dần vào nền nếp và chiến tranh c̣n xa lắm. Đó là thời điểm cực thịnh của nền Đệ Nhất Cộng Hoà. Ngày đó chưa có truyền h́nh, mới chỉ có truyền thanh. Chương tŕnh khá phong phú. Tôi thích vừa làm toán vừa nghe nhạc. Cũng có chương tŕnh “tuyển lựa ca sỹ” hàng tuần, nhưng phải nói đa số hát dở chứ không như các cuộc thi bây giờ, thí sinh hát khá vững.

Báo chí nở rộ, ai có tiền th́ ra báo. Không cần phải là người của cơ quan chính quyền như bây giờ. Tôi mê xem báo. Tôi đói tin tức. Ngày đó có vụ thuê báo. Các em bán báo lẻ hay quầy bán báo nếu bán không hết th́ cuối ngày trả lại toà soạn. V́ thế một số quầy báo có sáng kiến cho thuê báo. Người đọc thuê và trả tiền chỉ chừng phân nửa. Tất nhiên tiền đó chui vô túi chủ quầy báo và người bị thiệt hại là chủ nhân tờ báo. Gia đ́nh tôi chỉ mua một tờ và trao đổi với nhà cậu tôi chứ không thuê. Coi như tốn tiền một mà được xem hai báo.

Báo thiếu nhi hơi ít. Báo chí đối lập được tự do hoạt động. Do đó có ǵ xấu xa của chế độ hay chính quyền th́ những tờ báo đó vạch ra ngay. C̣n những tờ thân chính phủ th́ bị báo chí đối lập gọi là nâng bi. Sách th́ rất nhiều, đủ các loại. Mỗi nhà xuất bản có nét đặc thù riêng. Như nói đến Lá Bối là biết ngay các loại sách về Thiền, Phật.

Văn thi sỹ nở rộ, tất nhiên cũng chia làm nhiều loại. Có những văn sỹ chuyên viết tiểu thuyết tâm lư xă hội và được các bà nội trợ b́nh dân hay các tiểu thương ái mộ như bà Tùng Long. Có những văn sỹ miền Bắc viết chuyện trong thời gian họ đi kháng chiến chống Pháp rất hay như Doăn Quốc Sỹ. Thời ấy thi sỹ cũng nhiều. Nào Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Du Tử Lê, Nguyên Sa, Hà Huyền Chi, Hoàng Anh Tuấn, Mường Mán…

Thơ văn Sài G̣n hồi ấy như trăm hoa đua nở. Đủ loại và tự do sáng tác theo cảm hứng, không phải viết theo một khuôn mẫu nào, do đó rất phong phú. Nhưng tôi lại thích đọc sách phóng tác hay dịch! (v́ chưa đủ tŕnh độ đọc nguyên tác) Mỗi lần hè về là tôi mê mẩn ngốn hàng tá truyện. Vật giá có lên nhưng chỉ chút đỉnh. Cũng chỉ ḿnh cha đi làm c̣n mẹ ở nhà chăm lo con cái. Thuở tiểu học th́ mẹ tôi kèm tất cả các môn. Lên Trung học th́ bà không dạy được các môn khoa học nhưng Pháp văn th́ vẫn tiếp tục cho đến tú tài v́ ngày xưa mẹ tôi có bằng Certificat ǵ đó.

Cuộc sống vẫn êm đềm và khá thanh b́nh. Nhưng từ năm 61 th́ không c̣n nữa. Đường đi thuờng xuyên bị đắp mô. Quốc lộ th́ ít và tỉnh lộ th́ nhiều hơn. Địa phương quân mỗi sáng sớm phải đi phá mô. Xong xuôi th́ dân chúng mới dám đi lại. Đă có những mô n.ổ tung và cả chuyến xe đ̣ tan tác. Rồi những năm sau là những lần nổ ở vũ truờng nơi quân Mỹ thường lui tới. Tất nhiên dân thường cũng vạ lây.

Tôi vẫn ngoan ngoăn với sách đèn. Chẳng hề giao du bạn trai v́ cha mẹ c.ấm. Ngày ấy Gia Long và Trưng Vương là hai trường nữ nổi tiếng nhất. Hàng năm chỉ có một kỳ thi chọn học sinh giỏi là Trung Học Toàn Quốc. Lẽ dĩ nhiên số đậu rơi vào bốn trường lớn. C̣n Lễ Hai Bà Trưng hàng năm được tổ chức khá lớn và hai nguời đẹp của Gia Long, Trưng Vương được đóng vai Hai Bà ngồi voi diễn hành.

Đề thi của mỗi môn cũng vẫn do Giáo sư môn đó phụ trách. Tôi thấy như vậy mà hay. Chẳng có ǵ lộn xộn xảy ra v́ thời ấy không có nạn cha mẹ hối lộ Thầy cô. Măi năm tôi học đệ nhất th́ thi chung toàn khối và đă có rắc rối. Chẳng hạn đề thi triết đệ nhất lục cá nguyệt là của cô Lan dạy chúng tôi th́ lớp chúng tôi làm được c̣n các lớp khác th́ không. Hồi đó bậc Trung Học chúng tôi phải thi tổng cộng: Trung Học (hết lớp đệ tứ) Tú tài 1 (hết lớp đệ nhị) và Tú tài 2 (hết lớp đệ nhất). Nhiều bạn sau khi có bằng Trung Học th́ đi làm. Có thể chọn nghề thư kư. Sau Tú tài một, rụng bớt một số bạn. Sau Tú hai rụng một số. Số học giỏi và có điều kiện th́ tiếp tục con đường đại học.

Đề thi đại học do các trường tự phụ trách. Ngày thi lệch nhau. Trường nào cũng công bố danh sách thi đậu chính thức và dự bị. Do đó tôi cảm thấy rất trật tự nề nếp chứ không lộn xộn như bây giờ. Nếu gọi danh sách chính thức mà thiếu th́ truờng gọi đến dự bị. Đơn giản vậy thôi. Nhưng có lẽ hồi đó vấn đề hối lộ, bán đề thi không kinh khủng để đến nỗi Bộ Giáo Dục phải xen vào ra đề chung như bây giờ. Lại cũng do vấn đề tiền lương. Khi đồng lương không đủ sống th́ tư cách con người suy giảm.

Đường phố Sài G̣n của những năm 63 vẫn c̣n xe Mobylette và dễ thương ngộ nghĩnh là Velo solex. Chiếc xe xinh xắn nhưng có cái bầu to phía trước. Nữ sinh thường đi xe này. Khi chạy xe, tà áo dài phía sau phồng lên trông rất vui. Nhưng đa số học sinh vẫn đi xe đạp. Số xe máy rất ít. Và v́ thế đường phố Sài G̣n vẫn khá thênh thang. Năm đệ tam th́ tôi không đi xe đưa rước nữa mà chuyển qua xe đạp. Cũng khá xa mà sao hồi đó chúng tôi không thấy ǵ. Chả như bây giờ sân trường cứ tràn ngập xe máy mà lại c̣n xe phân khối lớn.

Năm tôi học đệ tứ th́ xảy ra vụ Phật Giáo. Sau đó nền Đệ nhất Cộng Hoà sụ.p đổ. Tôi không ghét ông Diệm nhưng tôi ghét bà Nhu. V́ tính t́nh xấc xược của bà. Nhưng phải nói hồi đó với tôi, xă hội tương đối ổn định, trật tự nề nếp. Dù ông Nhu có lập Đảng Cần Lao nhưng không ép buộc lộ liễu. Họ cũng gợi ư nhưng không vào th́ thôi. Cũng chẳng v́ thế mà bị “đ́” sói trán. Hay trong ngành giáo dục của cha tôi, người ta không trắng trợn? Tôi chỉ biết nếu học giỏi là được học bổng, không bị phân chia lư lịch ǵ cả.

Sau 63, các trường có Ban Đại diện. Ngày đó tôi không chú ư lắm các thành phần ứng cử. Nhưng sau này, các anh chị lớn nói rằng, học sinh sinh viên giỏi thường bù đầu với việc học, ít tham gia các hoạt động trên. Do đó phe miền Bắc cài người vào nằm vùng ở hầu hết Ban đại diện các trường. Họ được huấn luyện kỹ nên ăn nói hoạt bát. C̣n học sinh giỏi th́ không có thời gian luyện khoa ăn nói. Sài G̣n của tôi sau những ngày đấu tra.nh sôi nổi, sau những bi.ểu t́.nh, sau vụ t.ự th.iêu của Hoà Thượng Thích Quảng Đức… lại êm ả trở lại. Nhưng không như xưa v́ liên tiếp các đ.ột bi.ến về ch.ính trị. Cuộc chỉnh lư của Tu.ớng Nguyễn Khánh rồi chẳng bao lâu đến phiên của Tư.ớng Thiệu và Tướng Kỳ.

Tôi chỉ biết học và không chú ư đến những việc khác. Liên tiếp hai năm thi tú tài một và hai đă ngốn tất cả quỹ thời gian. Nhưng tôi chỉ nhớ Tú tài một, chuơng tŕnh đă bị cắt giảm v́ chi.ến tr.anh. Cũng từ năm 1965, quân Mỹ đổ vào đông và đă gây xáo trộn. Lính Mỹ lấy vợ Việt. Đa số là các cô gái nh.ảy, thời đó gọi là cave hay cả các cô xuất thân là người giúp việc. Me Mỹ là tên dân chúng gọi cho những cô này. Nội cái tên gọi đă nói lên sự kh.inh rẻ của dân chúng dành cho những cô gái ấy. Nghĩ cũng đáng thương. Nhưng cũng chính những đồng đô la mà các cô me Mỹ tiêu vô tội vạ đă làm vật giá Sài G̣n tăng cao. Người làm của chúng tôi lấy Mỹ và đổi đời.

Cuộc sống của giới trung lưu như giáo sư bắt đầu lao đao. Giáo sư nào dạy tư thêm th́ c̣n đỡ. Gia đ́nh tôi hạn chế mọi chi tiêu v́ cha không dạy tư và yêu cầu mẹ phải ở nhà chăm sóc việc học của các con. Ai có thời gian để gửi thư t́nh tự, ai có lúc lang thang quán ăn hàng, c̣n tôi th́ không, cắm đầu cắm cổ học, đi học xong là về nhà ngay. Ngày đó chúng tôi, gồm chị tôi và tôi đều học Gia Long nên không có vụ bạn trai nào dám đến nhà. Chúng tôi cũng chẳng học tư nhiều. Mà học tư vào những năm thi th́ cũng né con trai tối đa. Lệnh cha mẹ phải chấp hành nghiêm chỉnh. Thậm chí sau này chị tôi học dược cũng vẫn không hề có một tên “masculin” nào dám đến nhà!

Tôi thích con gái đi học bằng xe đạp và nón lá nghiêng nghiêng. Từng ṿng xe quay chầm chậm nhỏ bé. Áo dài ngày đó mặc rất kín đáo. Chúng tôi bắt buộc phải có áo lá bên trong. Và các bà giám thị luôn coi chừng nhắc nhở những nàng mặc áo quá chít eo, những nàng khua giày cao lộp cộp. Chúng tôi đi sandalh, rất dễ thương. Tôi không thích học tṛ quá điệu, áo thật eo hay guốc cao. Mà thật kỳ, đa số mấy cô điệu thường học kém và có bồ sớm. Các cô giỏi th́ ngược lại. Nhưng cũng có cá biệt. Tôi c̣n nhớ ngày đó cô bạn ban B, Kim Dung rất xinh học giỏi được chọn làm Tây Thi trong vở kịch cuối năm chẳng điệu ǵ cả. Riêng lớp tôi th́ chỉ có vài chị điệu và tất nhiên học dở, có bồ sớm.

Năm tôi thi tú tài, chỉ c̣n viết và bỏ vấn đáp. Chứ trước kia, một số môn phải thi viết và vấn đáp (c̣n gọi là oral).Tôi đậu tú tài cao và được trường thưởng hai chữ Gia Long quyện vào nhau bằng vàng 18. Những năm sau, trường đổi lại là hoa mai vàng. Đó cũng là phù hiệu của Gia Long. Tôi mê Y kh.oa và ghét duợc! Tôi thích là bác sỹ để ch.ữa bịnh cho tr.ẻ em và tự nhủ sẽ chữa mi.ễn phí cho em nào mắc bệ.nh sài u.ốn v.án. Tất cả chỉ v́ tôi m.ất một đứa em trai v́ bệnh này. C̣n Dư.ợc kh.oa, chẳng hiểu sao tôi gh.ét nữa. Tôi nói rằng học dư.ợc, ra b.án thu.ốc ngồi đếm từng đồng xu leng keng! Chính v́ thế sau này có một dư.ợc sỹ đại uư theo, tôi đặt tên anh ta là “đại uư leng keng”! Nhưng nghề chọn người chứ người không chọn được nghề. Tôi thi rớt dù học giỏi. Năm đó đề thi y kh.oa bắt đầu có câu hỏi tổng quát, hỏi về những kiến thức xă hội chung quanh. Tôi học chăm quá nên vào pḥng thi bị đu.ối sức, qu.ỵ ng.ă .

Năm 1967 – 1971

Tôi ghi danh Khoa Học, Chứng chỉ Lư Hoá Vạn Vật tức SPCN (Science-Physic-Chimie-Naturel). Nơi đây quy tụ nhiều người đẹp nhất Khoa học v́ sinh viên xuất thân ban A. C̣n chứng chỉ MGB hay MGP th́ ít con gái hơn…
Chương tŕnh học khá nặng. Buổi sáng thực tập đủ năm môn và chiều học lư thuyết. Tôi thích thực tập thực vật hơn các môn kia. Cắt ngang hoa dâm bụt hay lá ǵ đó xem được cấu trúc của nó duới kinh hiển vi rất đẹp. Tôi không thích thực tập địa chất. Toàn những mẩu đá vô tri giác. Tôi cũng không thích lư với những bài dây điện loằng ngoằng.Thực tập động vật tuy sợ nhưng cũng thích. M.ổ con vật ra và xem cơ thể bên trong rất thú vị. Chính ở đây là những mảnh t́nh trong sân trường đại học, v́ có cơ hội tiếp xúc bạn trai. Chứ những ngày Gia Long hết đi xe hiệu đoàn đến xe đạp và mê học quá chừng đâu chú ư ai.

Năm đầu tiên đại học tôi chứng kiến vụ tết Mậu Thân. Sáng sớm nghe n.ổ mà ngỡ tiếng ph.áo. Khi nghe tin Sài G̣n bị t.ấn cô.ng, tôi bàng hoàng. Trời, thủ đô? Mấy ngày sau từ nhà nh́n về phía G̣ Vấp thấy trực thăng thả roc.ket từng chùm. Lần đầu tiên cô bé nữ sinh chứng kiến tận mắt chi.ến tra.nh dù chỉ là một phần nhỏ. Thực ra trước đó có những lần các quán bar bị đặt ḿ.n n.ổ, x.ác người tung toé. Sau những ngày kinh hoàng, Sài G̣n của tôi lại như cũ.

Ngày đó chúng tôi đi học mặc áo dài. Thỉnh thoảng có cô mặc đầm và không ai mặc Tây cả… Nên sân truờng đại học tung bay bao tà áo muôn màu sắc. Cha mẹ khó nên tôi vẫn đơn giản áo trắng và ôm cặp như thuở Gia Long. Thỉnh thoảng mới áo màu. V́ vậy khi tôi mặc áo dài màu, các bạn thấy lạ. Chiều thứ bảy, tôi thường cùng cô bạn lang thang Sài G̣n để ăn hàng và ngắm phố phường. Hồi đó có lẽ không khí chưa ô nh.iễm nên con gái Sài G̣n tuổi mười bốn, hai mươi trông rất đẹp.

Đẹp tự nhiên ở đôi mắt đen láy, nước da đỏ hồng. Có cô má đỏ au như con gái Đà Lạt .Tôi thích người đẹp nên hay ngắm con gái Sài G̣n trên hè phố. Tuổi học tṛ thích nhất là lang thang phố phường và ăn hàng. Đi học cũng thích thầy bịnh để được nghỉ rồi rủ nhau ra quán tán dóc. Thật ra bọn con gái chúng tôi siêng năng đi học nên thích vậy chứ một số ông con trai rất ít đến giảng đường. Mấy ông đó chỉ đi thực tập v́ có điểm danh. Vả lại không đi th́ sẽ không biết làm. C̣n lư thuyết th́ lâu lâu đáo vô một chút. Cuối năm bắt đầu ngồi tụng. Tất nhiên cour đâu bằng bài giảng của Thầy. Thế là các ông tướng này đi theo năn nỉ mấy cô như tôi cho mượn tập!

Đời sống đắt đỏ, vật giá leo thang hoài. Chiến tranh cũng vậy. Quay trái, quay phải, sau lưng, trước mặt, đâu cũng có người đi lính và ch.ết. Có năm sinh viên phản đối chính quyền, đă vô xé bài không cho chúng tôi thi. Sau này, điểm danh lại th́ trời ơi… mấy tay kí.ch động, phá ho.ại đó toàn là dân nằm vùng. Tôi bắt đầu gửi bài đăng báo năm đệ tứ. Đăng và dấu nhẹm, không dám cho gia đ́nh biết. Hai năm sau th́ bận hai kỳ thi tú tài nên ngưng. Khi lên năm thứ hai đại học th́ tôi lai rai viết lại. Thuở đó báo có số phát hành nhiều nhất là tờ Chính Luận. Thiên hạ đổ xô đăng quảng cáo ở đây rất nhiều. Báo có mục Chuyện Phiếm. Nội dung là viết linh tinh đủ vấn đề nhưng khuynh huớng là chỉ trích những việc… đáng bị chỉ trích. Tôi lấy bút hiệu Quỳnh Couteau. Tôi c̣n nhớ có mấy cây bút sinh viên của mục này: Quỳnh Couteau của Khoa học, Thảo gàn của Nha khoa, Thu hippy dường như văn khoa.

Tôi viết truyện t́nh cho báo Tiếng Vang . Tôi có thói quen mua từng ram giấy pelure đủ mầu và viết bài trên đó. Tương đối tôi viết khá dễ dàng, đặt bút là viết, hiếm khi sửa lại hay bôi xoá. Để bài ḿnh được đăng nhiều và liên tiếp, tôi lấy khá nhiều bút hiệu. Nhưng tôi biết nhà văn Thanh Nam, người phụ trách trang đó biết là cùng một người .V́ cùng một nét chữ, cùng cách sử dụng giấy pelure hồng, vàng. Tiếng Vang gửi nhuận bút 500/bài, Chính Luận th́ cao hơn 800/bài . Sau này tôi lai rai nhảy qua Sóng Thần của Chu Tử…

Tôi nhớ dường như sau một năm tôi có bật mí trong một truyện, các bút hiệu 1, 2, 3, 4… đều chỉ là một người! Có điều vui là các độc giả cũng ái mộ, gửi thư đến toà soạn xin làm quen. Vui hơn nữa là khi tôi đến toà soạn lănh nhuận bút gặp Hồng Vân, cô con gái chủ nhiệm Quốc Phong. Cô này lúc đó thay thế nhà văn Thanh Nam phụ trách trang Truyện t́nh của bạn. Không biết sao chỉ gặp lần đầu, nh́n xa xa mà cô rất thích tôi. Hôm sau xuất hiện trên báo ḍng nhắn tin của cô: “ PQ, hôm qua PQ đến mà chị không dám ra nói chuyện v́ đang đau mắt. Nhưng thấy PQ xinh quá, giọng Bắc thật dễ thưong.”

Giời ạ, sau ḍng nhắn của cô th́ thơ của độc giả ái mộ gửi đến quá xá luôn. Tất nhiên tôi vẫn dấu nhẹm mọi người trong gia đ́nh. Nếu không, bố tôi cho ăn chổi chà về tội không học, lo viết chuyện đăng báo! Thực ra tôi vẫn chăm học. Viết truyện t́nh ngắn với tôi dễ ẹt! Chỉ mất chừng một giờ mà lại có 500 hay 800 để đăi bạn bè ăn hàng th́ cũng thú vị. Tiếc là sau này Tiếng Vang tự đ́nh bản và tôi quay qua viết cho Sóng Thần hay Dân Luận.

Hồi đó sinh viên chúng tôi hay ra thư viện để học. Thư viện khoa học th́ nhỏ, muốn có chỗ phải đi sớm. Chỉ có môt điều tiện là ngay trong truờng th́ sau đó vô giảng đường, không mất thời gian di chuyển. C̣n thư viện đẹp là của ĐH Vạn Hạnh nhưng tôi ít đến v́ xa nhà. Hai thư viện gần là thư viện Văn hoá Đức và Hội Việt Mỹ. Thư viện Văn hoá Đức nằm trên đường Phan Đ́nh Phùng, nhỏ thôi, có máy lạnh, nhưng tệ hại là không có người giữ xe, xe cứ khoá để trong sân, thư viện lại ở trên lầu. Và tại đây, tôi có những kỷ niệm vừa vui vừa buồn. Những kỷ niệm nho nhỏ.

Thư viện bé nên chỉ một thời gian, những sinh viên hay lui tới đều biết mặt nhau. Tôi c̣n nhớ có một sinh viên già nhất, rất lập dị. Anh để hàm râu dài và xồm xoàm. Nghe nói anh đang học Luật. Gặp tôi vài lần ở cầu thang, mỉm cười với nhau và thế là quen. Có lần tôi ngồi học và có cảm tưởng. Tôi nh́n sang thấy anh ở bên kia và đang vẽ kư hoạ tôi. Khi ra về, anh đưa và hỏi: “Hôm nay anh thấy em dễ thương lắm. Em đă lấy mất một buổi học của anh. V́… vẽ em…”. Có khi anh bảo tôi: “Khi nào em lấy chồng, nhớ báo anh nhé ” – “Anh sẽ mừng ǵ?” – “ Một tạ muối” – “Kỳ vậy” – “Cho t́nh nghĩa vợ chồng của em đậm đà như muối.”

T, bạn cùng Khoa học cũng hay đến đây. T đến v́ tôi chứ không v́ thư viện v́ nhà T xa. Lắm lúc cũng chẳng học, vẽ lăng quăng hay viết lăng quăng mấy câu nho nhỏ ǵ đó cho tôi. Rồi tôi bị mất xe ở đây. Hôm đó tự nhiên thấy người rất khoẻ và sáng suốt, tôi say mê học. Thư viện về hết, chỉ c̣n ḿnh tôi. Khi xuống th́ chẳng thấy Honda, chiếc Honda mới toanh do gia đinh mới mua, giá 72.000 đ (lương giáo sư lúc đó 23.000). Tôi hoảng hốt xuống pḥng dưới của bảo vệ, hỏi rất ngây thơ:

– Bác thấy xe cháu đâu không?

Bác cười:

– Không, chắc lại bị ăn cắp rồi!

Tôi tái mặt. Bác nói tôi đi khai báo. Tôi đi bộ đến bót cảnh sát trên đường Mạc Đĩnh Chi gần đó. Lăo cảnh sát thấy ghét. Lăo ghi chép xong lời khai rồi cười cười:

– Thế cô có biết ai lấy xe cô không?!

Tôi đi bộ từ đó về nhà ở Gia Định. Thấy con đi về, không có xe, cha mẹ hỏi. Mếu máo. Bố mắng tơi bời. Mẹ th́ không. Tôi nằm trên gác khóc suốt. Sao người ta ác thế, sao ăn cắp xe của tôi, khoá rồi mà. Ngày đó tôi ngây thơ và gà tồ kinh khủng. Không thấy tôi đi học hay đến thư viện Văn hoá Đức, T t́m đến nhà. Thấy mắt sưng, T hỏi. Rồi th́ T nói: “Tôi sẽ đi hỏi cho LC. Tôi quen tên đầu đảng, trùm ăn cắp xe ở vùng…” Tôi tṛn mắt. T, anh chàng đẹp giai, thông minh, đàn hay, vẽ giỏi quen trùm du đăng! Thấy tôi tṛn mắt, T chỉ cười. Hôm sau T quay lại: “Bạn tôi không t́m được v́ không phải vùng nó kiểm soát. Tụi nó ră xe nhanh lắm.”

Tôi nghỉ học mấy bữa. T lại t́m đến :

– LC à, LC lấy xe PC của tôi đi học đi. Tôi c̣n cái Mini Vespa mà.

Tôi đỏ mặt. T là vậy. Muốn nói ǵ là nói. Chẳng ngán ai.

C̣n Hội Việt Mỹ th́ thư viện to, đẹp. Đa phần tôi viết truyện t́nh đăng báo ở đây! Nhớ lại cũng vui. Khi báo đăng, tôi cắt và đem vào trường cho bạn xem. Bạn gái xem th́ ít (nhỏ Mai không có tâm hồn văn chuơng) nhưng T xem th́ nhiều. Có khi ngang đến độ bỏ giờ học, ngồi ở thềm của lớp để xem truyện cuả tôi! Bởi thế mấy chục năm sau, có người nghi ngờ, đoán rằng T, bạn ông ấy cũng chính là T ngày xưa của Khoa học, đă mét T. T t́m đọc và đă nhận ra văn phong của tôi. “Văn LC lúc nào cũng vậy. Vẫn rất nhẹ nhàng , thơ mộng”. Văn vẫn vậy nhưng cuộc đời th́ không vậy, bao nổi trôi sóng gió cho cô nhỏ được một số ông ở khoa học gọi là “người có đôi mắt đẹp nhất pḥng Hoá”!

T́nh h́nh chi.ến sự ngày một leo thang. Tôi nhớ những sự kiện đăc biệt như:

– Vụ đầu cơ gạo của thương buôn Tàu và Tướng Kỳ đă “chơi ngon”, ra lịnh xử tử Tạ Vinh. Ông tướng này thuộc loại vơ biền, ruột để ngoài da, phát biểu như cao bồi Texas. Chẳng cần biết sau này Tạ Vinh có bị xử t.ử thật hay không nhưng lập tức vụ gạo được ổn định.

– Năm nào đó tôi tẩy chay không đi bầu khi Tướng Thiệu độc cử.

Vật giá ngày leo thang luôn. Th́ như đă nói, quân Mỹ xài phung phí, “me Mỹ” xài vung vít. Chỉ c̣n giới trung lưu như giáo chức là khốn đốn. Tôi vẫn sống trong tháp ngà. Chiến tranh có làm suy tư th́ chỉ trong phút chốc. Việc học cuốn hút. Và những ngày thứ bảy cuối tuần vẫn vi vút dạo phố Sài G̣n ăn quà. Tuổi học tṛ thích nhất là ăn hàng. Tiền bố phát hàng tuần eo hẹp lắm v́ nhà giáo mà. Nên tôi đă bổ sung ngân quỹ ăn hàng bằng các bài viết cho Tiếng Vang, Sống, Chính luận.

Thời tiết Sài G̣n ngày ấy không như bây giờ. V́ tôi nhớ đi học phải mặc áo dài suốt ngày. Nhà xa, sáng học thực tập, trưa ở lại và chiều học lư thuyết. Có lẽ ảnh hưởng thời tiết chung toàn thế giới và cũng v́ Sài G̣n không quá đông như bây giờ? Mấy cô bạn Gia Long cũ, bỏ đi làm từ khi đậu tú tài th́ có cô vô Ngân hàng, lương rất cao. Cô th́ làm cho hăng Pháp, lương coi như khoảng một lượng vàng một tháng. Lương chuẩn uư gần một lượng. Quân nhân được mua hàng rẻ gọi là quân tiếp vụ.

Đa số mua xong, đem ra ngoài bán lại cho con buôn. Hồi đó có phong trào làm cho sở Mỹ v́ lương rất cao. Thanh niên sinh viên lai rai bi.ểu t́.nh. Cứ “biểu”, cảnh sát biết hết ai là ham vui, ai là đ.ặc vụ nằm vù.ng.Tôi chưa bao giờ tham gia hay đi xem. V́ chăm học quá mà ? Nhưng đừng nghĩ rằng không nghe tiếng đ.ại bác trong tháp ngà! Vẫn nghe đấy chứ. Cũng có những niềm riêng khắc khoải. Nhưng mục tiêu phía trước phải đạt cho xong…

Tôi ra truờng năm 1971. Thân cư Mệnh nên suốt đời tự lo. Họ hàng, cha mẹ không giúp dù quen biết nhiều. Tôi viết bài “Ba lần văn bằng cử nhân đi xin việc làm” đăng trên Chính Luận. Nhà báo nói láo ăn tiền, bi th.ảm hoá thêm. Chàng Giám Đốc Nha Viện Trợ trực thuộc Tổng Nha Kế Hoạch viết thư mời cô cử đến cộng tác.

Thế là hết những ngày lang thang sân truờng đại học. Hết những ngày khúc khích với anh trên đường Khắc Khoan, nghe lá me xanh reo trên tầng cao, hết những chiều thứ bảy cùng cô bạn thân ăn hàng chợ Sài G̣n, hết những ngày trong giảng đường nhỏ giờ Thầy Thới, nghe được cả tiếng muỗi vo ve, hết cả những giờ xem hai phe chống và thích rượt nhau trong sân truờng khoa học.

Tôi bắt đầu vào đời. Từ ấy…

Sài G̣n của tôi có những nét khác hơn của thuở học tṛ. Nhưng vẫn là Sài G̣n của mưa nắng hai mùa, của áo lụa Hà Đông giữa trưa hè nóng bỏng, của tiếng chuông chùa Xá Lợi ngân nga. Của giáo đường nhà Thờ Đức Bà tung bay muôn màu áo chiều chủ nhật.

Sài G̣n với áo dài tha thuớt. Áo Sài G̣n không biết ngồi sau lưng Honda hai bên như bây giờ. Áo Sài G̣n không biết phóng xe ào ào như bây giờ. Áo Sài G̣n không cười hô hố trên đường phố như bây giờ. Áo Sài G̣n không cong cớn như bây giờ…

Và tôi, bao năm tháng trôi qua, vẫn một niềm hoài vọng về Sài G̣n ngày ấy…

Xin trả cho tôi nắng Sài G̣n

Thênh thang đường phố lụa Hà Đông

Xin trả cho tôi mưa ngày ấy

Và trả cho tôi cả cuộc t́nh…

Hoàng Lan Chi

 

 


VĂN CHƯƠNG

2022-2023
2021
2020
2018-2019
2017
2016
2015
2014
2013 
2012

Truyện Ngắn

Hồi ức - Một thời chinh chiến 
No Easy Day - Ngày Vất Vả


Tháng Tư
Giầy Saut trong tử địa
Sài G̣n tháng Tư - 1975
Mặt trận Khánh Dương
Nhớ về Trường Sơn
Những chuyện kể năm xưa: 1975
Ngày 30/4/1975
Sự c̣n mất của một người em
Chiếc Balo để lại
Tôi gọi họ là Anh Hùng!
Nhảy vào Triệu Phong
Câu chuyện chiếc Mũ Xanh
Lư Tống
Những người lính Dù bị lăng quên  
TQ chuẩn bị chiếm ĐL năm 2027 
Trong lửa đỏ...  
Đại đội C Viễn Thám của tôi  
Múa hè đỏ lửa 1972  
Mừng sinh nhật 102 tuổi của ông Trần V. Công  
Thành phố Sài G̣n  
Chiến sự đầu xuân 75  
Tướng Trần Quang Khôi - Một đời Kỵ Binh  
Chiến trường Kampong Trạch
Biểu t́nh chống phái đoàn CS Việt Nam
Phù du
Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên & những bản t́nh ca
Chiuyện t́nh đẹp của nhà thơ Nguyên Sa
Dịch Norovirus - Cúm bao tử
Cuộc chiến không muốn thắng
Có những mùa Xuân…  
Nhật kư An Lộc 
Qua cơn mê  
T́nh lính  
Cổ thành QT & Đại Lộ kinh hoàng  
Cho người năm xuống trên quê hương  
Chai rượu vĩnh biệt  
Bốn mươi năm ngày nhập cuộc  
Đại lộ Kinh Hoàng  
Trận đánh tại Thường Đức  
Xuân ở nơi nào?  
Năm Th́n nói chuyện Rồng 
CSVN lại mồi chài Kiều bào 
Người Việt ở Mỹ đón Tết 2024  
Hội chợ Tết "Nhớ về Sài G̣n" 
Thiệp chúc tết xưa của QLVNCH  
Người lính chết sau cùng  
Sự kiện quan trọng trong tháng Giêng 2024
Hồi kư 1 con gái đất Bắc tại Sàig̣n trước 1975
Xuất xứ những bài nhạc Việt vang bóng...
Vài kỷ niệm với ca sĩ Duy Trác 
Chợ hoa Tết rực rỡ ở Little Saigon  
Can thiệp nước ngoài vào cộng đồng Úc 
Riêng một góc trời-Ngô Thụy Miên  
Hiệp định Paris tháng 1/1973
Nhiều đường vẫn chưa ngọt  
Một cái Tết khó quên
Ḍng sông cũ
TQ suưt bị KQ VNCH bắn ch́m sau Hải chiến HS
Tưởng nhớ các anh hùng tử sĩ hài chiến Hoàng Sa
50 năm hải chiến Hoàng Sa...
Elvis Presley - Ông hoàng nhạc Rock and Roll
Hà Nội muốn phát huy nguồn lực người Việt ở...  
Mô thức kinh tế Hoa Kỳ...
Chọn tuổi x
Tông nhà
Hai ông bố nuôi