Những bài viết của Bất Khuất

Thuyền Đời - Con thuyền Audio
Thuyền Đời - Xuân quê hương Audio
Ḍng sông quê hương - Ḍng Cửu Long  
Ngày oan trái! - Audio
Đất nước tôi - Audio
Khi người tù trở về
Tiếng trống Mê Linh - Audio
Chuyện cuối năm - Audio
Màu áo cũ - Audio
Mang theo quê hương  - Audio
Trong âm thầm c̣n nhớ ai! - Audio  
Sài G̣n là đây sao em! - Audio
Chuyện trăm năm - Trên quê hương - Audio
Chuyện trăm năm - Một ngày - Audio  
Trăm đắng ngh́n cay - Audio
Chiếc áo Bà Ba - Audio
Giữa đồng xưa - Audio
Áo trắng - Audio
Gửi nơi cuối trời - Audio
C̣n nhớ mùa xuân - Audio
Từ một chuyến đ̣ - Audio
Dêm thánh vô cùng - Audio
Khi mùa đông về  - Audio
Noel năm nào - Audio
Khúc quân hành - Audio
Cho ngàn sau - Audio
Ngh́n trùng xa cách  -  Audio
Rồi lá thay màu - Audio
Con chim biển 3 - T́m về tổ ấm - Audio
Con chim biển 2 - Trên biển khơi - Audio  
Con chim biển 1 - Tung cánh chim - Audio
Đốt sách ! - Audio
Đi học  
Sài G̣n - Audio
Thầy Chín - Audio
Đi buôn - Audio
Khi tôi về - Audio  
Làng tôi - Audio 
Sao em không đến - Audio  
Anh đi!  - Audio  
Vỉa hè đồng khởi - Audio
Ngày đại tang  
Chuyện mất chuyện c̣n  
Con chim Hoàng Yến - Audio 
Nhớ cả trời Việt Nam
C̣n thương quê hương tôi
Tôi muốn mời em về
Chuyện Tết
C̣n nhớ không em?
Trên đồi Tăng Nhơn Phú - Audio
Remember!
Cánh chim non - Audio
Đốt sách
Buổi tựu trường
Đêm trắng
Nước mắt trong cơn mưa   
Trăm đắng ngh́n cay  
Con đường tôi về
Hăy c̣n đó niềm tin
Chiều ra biển  
Những đứa con đẽ muộn  
Một thời kỷ niệm  
Băi tập
Bước chân Việt Nam
Người lính già
Để nhớ
Đi buôn  
Ngày anh đi  
Kỷ niệm xưa
Rồi tết lại đến
Bài thánh ca buồn
Tears of pride  
We remember
Vui - Buồn … Ngày hội ngộ 44 năm khoá 8B+C/72  
Mùa hè đỏ lửa  
Dư âm ngày hội ngộ 44 năm tại California  
Có chuyến bay  
Lời ca
Quỳnh Hương diển tích
Để nhớ để quên
Cờ ḿnh!
Khắc chữ Tự Do
Mai cai hạ  
Củ khoai ḿ
Khinh Binh 344
Tết


 

 


 

 

 

 

 

 

 

Nằm Chơi

Vơ Phiến là một nhà văn, tên thật Đoàn Thế Nhơn sinh tại B́nh Định năm 1925 và mất tại Santa Ana, California năm 2015. Sau tác phẩm Mưa đêm cuối năm (1958, Sài G̣n)ông bắt đầu được biết đến nhiều và cũng là tác giả của 4 tiểu thuyết, 9 tập tuỳ bút, nhiều tập truyện ngắn, một tập thơ và nhiều tác phẩm phê b́nh tiểu luận, ông c̣n một bút danh khác là Tràng Thiên.

Một truyện ngắn hôm nay hắn đưa lên giới thiệu với thân hữu với cái tựa nghe cũng đă đă, câu chuyện "Nằm chơi" mà chơi nằm là kiểu chơi như thế nào mà lại "nằm chơi" trên chiếc vơng mới là độc đáo.

Hắn cũng có lúc "nằm chơi" giữa rừng với chiếc "thằng sàng" này môt thời gian, hắn cũng học được của lính cách giăng vơng, hai đầu dây vơng nằm ngay trên bụng, quần áo, giày "sô" cũng không cởi, khi có biến chỉ kéo 2 đầu dây là vơng tuột không chút vướng víu, quấn vào tay, nhét vào ba lô là xong chuyện.

Lúc làm quen với ca dao có ai không học qua bài "Đố ai" trong đó cũng có phớt qua chiếc vơng.

Đố ai nằm vơng không đưa?
Đố ai gặp lại người xưa không nh́n?

hay c̣n là

Đố ai nằm vơng không đưa
Ru con không hát, anh chừa nguyệt hoa

Nhiêu đó thôi đủ thấy con người ḿnh thật trữ t́nh, và có nhiều bài thơ cũng liên quan đến thú "nằm chơi"
Chiếc vơng đong đưa ở cuối sông
Tóc dừa buông rũ dáng chờ mong
Tóc em đen mượt, duyên em thắm
Như nước phù sa có biết không .

Hiện nay có dịp lang thang nơi các tỉnh miền nam, đâu đâu cũng thấy treo bảng hiệu "café vơng" hắn chưa rơ kiểu uống café này như thế nào, cái này mà bác Vơ Phiến chứng kiến chắc là thêm thắt nhiều sự t́nh vào tác phẩm "Nằm chơi" .

***
Inline image

Hồi xưa, khi vừa biết chữ vơng (Hán tự) có nghĩa là cái lưới, tôi liền hoan hỉ thấy công việc tầm nguyên chữ nghĩa xem ra thoải mái quá. Cái vơng do cái lưới mà ra: Đích rồi. Mặt vơng khác ǵ mặt lưới? Giằng ra bắt chim bắt thú, gọi là lưới; c̣n treo nó lên để nằm đu đưa th́ gọi là vơng. Cũng nó thôi.

Thừa thắng xông lên, tôi phăng ngay ra quê quán của chiếc vơng. Lại gốc từ phương bắc nữa đây. Tiếp xúc với văn minh Trung Quốc có nhiều cái lợi; ít nhất là cái lợi cho thuở bé nằm bú sữa mẹ, và khi lớn lên thỉnh thoảng được nằm tọng teng về nhà ngoại.

Tôi hài ḷng về sự học hỏi của ḿnh, và xếp vấn đề qua một bên, cái bên những chuyện đă được giải quyết thoả đáng.
Đến khi gặp bài thơ ‘Tức sự’ của Cao Bá Quát liền nhận ra sự lố lăng của ḿnh. Cao Bá Quát mở đầu:

Nhăn khan cao điểu độc phàn lung
Tự ỷ thằng sàng bất ngữ trung

Hoá ra cái vơng nó không hề là cái lưới bao giờ cả; nó là ‘thằng sàng’, là cái giường dây!
Giường dây là cái quái quỉ ǵ lạ vậy? Văn thơ của Siêu của Quát, nó "vô Tiền Hán" có phải do chỗ này chăng? Trong vô vàn thơ phú từ đời Hán đời Đường đời Tống để lại, đâu có thơ nào có ‘thằng sàng’? Thua họ Cao là cái chắc. Thậm chí đi ngược lên tới thời cổ đại xa xưa, lục soát các câu ḥ câu hát của dân gian do cụ Khổng sưu tầm, e cũng không t́m ra cái giường dây.

Các cụ ta xưa kia vung tay viết lách, hễ cái ǵ Tàu nói th́ ta nói, Tàu không nói th́ ta cho qua luôn. Tuyết, liễu, con chim oanh, con phượng hoàng, cây phong, lầu hồng, gác tía v.v... đầy dẫy trong thơ ta. C̣n cái vơng, cái áo tứ thân, tiếng sáo diều v.v... th́ không thấy trong văn thơ cổ điển của ta bao giờ, mặc dù hằng ngày chúng sờ sờ ngay bên ḿnh. Ông Cao đưa luôn cái vơng vào câu thơ: ông tả chân, ông cách mạng, ông táo bạo quá.

Trước ông Cao, Hải Thượng Lăn Ông lên kinh bốc thuốc, trông thấy cái vơng trong phủ chúa, có kể lại. Nhưng đó chẳng qua là kư sự, là ghi chép sự việc thôi, không cốt ở văn chương. Tôi không biết trong nguyên bản Hán văn Lăn Ông dùng tiếng ǵ để gọi cái vơng. Ngày nay, trong sách báo Trung Hoa, có nơi người ta gọi nó là điếu sàng, có nơi là bố sàng. Giường dây, giường treo, giường vải là... giường cả. Ối, vơng là một thứ giường! Công việc loay hoay t́m đặt một cái tên cho loại giường kỳ cục nọ, nhọc nhằn thay, vất vả thay.

Như vậy rơ ràng là ở Tàu vơng không có tên, không có mặt. Người Tàu khi cần nói đến nó, phải t́m cách phiên dịch tiếng nước ngoài. Thế là cái vơng mất quê quán ở phương bắc.
Không sao. Sách Tây mách: Quê nó ở Nam Mỹ. Ngay chuyến đi tân thế giới đầu tiên, trông thấy cái vơng, nằm thử, ông Kha Luân Bố lấy làm khoái, rước ngay nó về Âu châu. Cây hamack cung cấp chất liệu làm ra nó, Tây và Mỹ gọi nó là hamac, là hammock, là hamaca...
Claude Lévi-Strauss nói gọn: Dân Indian ở Nam Mỹ phát minh ra cái vơng (1).

Đă có công ‘phát minh’, tất họ xài kỹ. Mọi giống Indian vùng nhiệt đới Mỹ châu đều nằm vơng, ngoại trừ giống Nambikwara. Nhóm dân này toàn loă lồ nằm lăn ngay ra đất mà ngủ, sát cạnh bếp lửa cho được ấm; sáng ra ḿnh mẩy lấm lem. Như thế thật tồi tệ, thật thảm hại. Nambikwara, có nhóm dân khác gọi họ là tụi ‘ngủ đất’ (uaikoakoré). Ngủ đất là biểu hiện cái nghèo khổ đến chỗ tuyệt mức, là một tŕnh độ sinh sống đáng chê.

Xài cái vơng từ buổi sơ khai, người Nam Mỹ tiếp tục mang chiếc vơng theo, qua các giai đoạn văn minh. Hơn nửa thế kỷ trước đây, ông Claude Lévi-Strauss đi khảo sát, đêm đến có những khách sạn ở Ba Tây cho khách tự do lựa chọn hoặc ngủ vơng hoặc ngủ giường. Không biết ngày nay ở Nam Mỹ có c̣n tục lệ thú vị ấy nữa chăng? Nửa thế kỷ có là bao? Giá mà họ cố gắng vài ba năm nữa, chịu khó d́u chiếc vơng sang luôn những khách sạn chọc trời của thế kỷ 21 th́ vui biết mấy.
Inline image

Bảo người da đỏ Nam Mỹ phát minh ra vơng, theo cái nghĩa da đỏ là thầy dạy vơng cho dân Bắc Mỹ với dân Âu châu, bảo thế th́ không sao, th́ có lư lắm. Nhưng nếu muốn ngầm ư cho rằng da đỏ Nam Mỹ là thầy dạy vơng toàn cầu, th́ nhà nghiên cứu không nghiêm chỉnh đâu. Mà ư ấy, có vẻ là ư ngầm của ông. E tôi phải chê ông Claude Lévi-Strauss quá. Eo ôi!

Châu Mỹ, nó chỉ là ‘tân thế giới’ đối với ông Kha Luân Bố và lớp người Âu châu sau Kha Luân Bố. Trước đó, Âu châu chưa biết tới nó; phải chờ tới thế kỷ 15 nó mới được ‘khám phá’ ra. Kỳ thực châu Mỹ không mới đến thế. Trong khoảng hai chục ngh́n năm tách ĺa với Âu châu, nó vẫn liên hệ mật thiết với Á châu. Claude Lévi-Strauss nói văn vẻ rằng trong khi Đại Tây Dương vắng lặng th́ hai bên bờ Thái B́nh Dương lại tấp nập xôn xao như bầy ong. Ông minh định là cái liên hệ rộn ràng này diễn ra ở Đông Nam Á châu chứ không phải ở Bắc Á. Trung Hoa bấy giờ không dính líu ǵ vào bầy ong này.

Trong hoàn cảnh giao lưu rộn rịp ấy, cả hai bờ Thái B́nh Dương đều có tiếng vơng đưa kẽo kẹt. Vơng anh đu qua vơng nàng đưa lại, suốt hai chục thiên niên kỷ. Bỗng có kẻ chỉ tay riêng về một phía, kêu đích danh: Đây là phía ‘phát minh’. Như vậy phía bên kia là ǵ? Là phía ‘đạo vơng’ (cũng như đạo văn) à? Không phát minh ra, cũng không mượn tạm, làm sao có vơng mà đu đưa? C̣n như mượn mà bóc đi cái nhăn hiệu sản xuất, mà không nêu lên danh hiệu của chủ nhân, th́... chả hoá ra là gian lận, là trộm cắp à? Nhà nghiên cứu nọ không nói toạc, nhưng quả có ư ngầm. Thế mới là lỗi lớn.

Dân ta không có truyền thống đạo tặc. Mượn của ai cái ǵ, nói ngay cái ấy: dừa xiêm, táo tàu, váy đầm, giày tây, cái đi-văng, món lẩu, đĩa bíp-tếch v.v... Lớn như ông hoàng đế, nhỏ như đứa cu-li, chức phận nào mang nguyên tên gốc nấy, nhăn hiệu xuất xứ c̣n giữ rành rành, nhất nhất đều minh bạch. Sá ǵ một cái vơng. Nếu vay mượn, tại sao nó không mang tên là cái ha-mă, cái hàn-mặc, cái hàm-mô? Tại sao sừng sững một cái tên lạ hoắc? Không Tàu, không Tây, không Mỹ; nó trương cờ độc lập một cơi, thấy không?

Hung hăng như thế xong, nghĩ lại thấy không ổn. Bên này Thái B́nh Dương đâu phải chỉ riêng dân ta nằm vơng?
Xem nào. Thái Lan có vơng. Mở tự điển, không đọc được thứ chữ loằng ngoằng, nhờ mấy người bạn Thái Lan phiên âm giúp: kẻ bảo là pay yuan, người gọi play yuan.

Phi Luật Tân cũng có vơng. Tiếng Tagalog gọi là duyan. Một bạn Phi cùng sở, người Ilocano, gần Manila, bảo tiếng địa phương cô ta là indayon.

Tôi cũng có thử t́m hỏi thêm về tiếng gọi của mấy giống dân khác, nhưng có lẽ không nên làm rườm tai người nghe. Mỗi tiếng nói có lắm cách nghe cách ghi: kẻ nghe ra Phnom Penh người lại nghe thành Nam Vang; kẻ viết ra Swar Tonnh, người lại nghe thành xà-tón, người khác ghi là Tri Tôn!
Rắc rối quá lắm. Vả lại ḿnh biết phận ḿnh: có nghiên có khảo ǵ tới nơi tới chốn được đâu? Chẳng qua nhón lấy vài sự kiện trong tầm tay, nêu lên để gợi ư các bậc cao minh vậy thôi.

Trong mấy tiếng Thái Lan, Phi Luật Tân vừa kể, bỏ qua những pay với play, những du với inda, tôi chú ư đến một âm cuối cùng th́ thấy hoặc yuan hoặc yan, hoặc yon, đọc lên nghe vẫn gần với cái tên Việt Nam của ‘nó’ lắm.

Từ nam Trung phần vào đến khắp Nam phần, chúng ta không có phụ âm ‘v’. ‘Đi về’, người dân quê ở B́nh Định, Phú Yên bảo ‘đi d́a’ hay ‘đi gỳa’. ‘Mắm và rau’, giọng Nam đọc ‘mắm già rau’. Cho nên cái vơng, từ Trung vào Nam, nó mang tên cái giơng. Cái giơng ấy, cùng với những cái yon, cái yan, cái yuan, coi bộ gần gũi đa. Tại sao chúng nó không thể cùng nhau lập nên một nhóm, đối lập với nhóm hamac, hammock, hamaca?

Như thế là không dám có quyết ư cho rằng chúng ta đă ‘phát minh’ ra cái ǵ. Chẳng qua chỉ mong cái vinh dự nọ được san sẻ cho cả hai bờ Thái B́nh Dương. Được chăng?

Ở hai bờ, cái vơng có hai địa vị khác nhau. Bên phía Nam Mỹ, cái vơng là cái để nằm thiệt; bên phía Nam Á, cái vơng là cái để nằm chơi.
Vơng Nam Mỹ xuất thân từ các bếp lửa của những bộ lạc thiểu sổ ở tŕnh độ văn minh thấp nhất; nó là cái phương tiện căn bản để cứu con người khỏi cảnh lăn thân xuống đất lẫn lộn với tro bụi. Các bộ lạc sơ khai Nam Á, cũng như tổ tiên chúng ta thời xưa, th́ không cần đến vơng vẫn khỏi ngủ đất: chúng ta ở nhà sàn, nằm ngủ trên ‘chồ’ cao ráo, sạch sẽ. Vơng không là phương tiện tối thiểu phải có của dân cùng; mà là tiện nghi để nghỉ ngơi lấy khoái ở những cuộc sống đă thảnh thơi. Cái vơng Nam Á, nó ‘xuất thân’ ra sao? Không biết. Chỉ biết đến thời lẫy lừng, trong khoảng đôi ba trăm năm trở lại đây, nó đă được vinh thăng vào tận phủ chúa, vào khắp dinh thự các quan, khắp các chỗ quyền cao chức trọng.

Trong tuồng Hộ sinh đàn của cụ thượng thư Đào Tấn, có chỗ tên Tiết Nghĩa cao giọng phách lối đối với Tiết Cương: "A! cái thằng mới dại chớ, lại c̣n xưng rằng tiện hữu mới gớm chớ. Bạn tao là vơng điều ngán ngà, quạt lông, khăn chữ nhất, chớ tao làm bạn chi với cái thằng chân không, áo hạn, mà cũng xưng là bạn?" Cựu tổng đốc Phạm Phú Tiết giải thích rằng ngày xưa các quan to th́ dùng vơng giá nhuộm điều với cặp ngán bằng ngà voi, quan nhỏ th́ vơng xanh với cặp ngán bằng gỗ.

Kẻ viết tuồng cùng người chú giải tuồng đều là quan lớn cả. Đều rành rẽ về phép tắc nhà quan cả. Duy cụ thượng Đào đă đem phép quan ta gán cho quan Tàu: Quan Tàu nào lại có thứ quan đi vơng, dù vơng đỏ hay vơng xanh. Chuyện vơng với cáng, với ngán nọ ngán kia, ông Đào đều xài tiếng Việt trong câu nói lối, tuyệt nhiên không đả động tới những món ấy bằng Hán văn trong các câu hát khách. Trong Hán ngữ làm ǵ có tiếng gọi cái vơng và nhất là cái... ngán! Vả lại ông Đào thỉnh thoảng vẫn có lời đùa nghịch: trong tuồng Trầm hương các có sâm banh, với sữa ḅ ở chỗ cung điện Trụ vương cùng Đắc Kỷ, th́ trong Hộ sinh đàn quan Tàu có lỡ ngồi lầm vào vơng ngán ngà cũng dễ hiểu thôi.
Nhưng đùa nghịch ấy chỉ xảy ra ở những câu nói lối. C̣n ở các câu hát nam hát khách, ở các bài từ, th́ nghiêm chỉnh, không có thế bao giờ.

Cao sang như vua chúa, quan quyền, th́... chơi vơng. Ông nghè mới đậu xong, lắm khi cảnh nhà hăy c̣n thiếu thốn, bà nghè đang cấy đang gặt ngoài đồng cũng vội rửa tay chải tóc, chỉnh đốn y trang, mà nằm vơng một chuyến theo sau ngựa chàng cho vẻ vang. Con nhà thường dân, nếu cố gắng chơi nổi, khi đưa dâu về nhà chồng cũng chơi một chuyến đi vơng cho sang.

Ngoài ra, trong cuộc sống thường nhật, hoặc mẹ nằm vơng ru con ngủ, hoặc bà nằm vơng kể chuyện xưa tích cũ cho cháu nghe, hoặc ông Nhất Linh nằm vơng bên suối Đa Mê mà viết văn, thổi sáo v.v..., đều không phải cốt đáp ứng một nhu cầu căn bản, thiết yếu nào cả. Chẳng qua là nằm chơi, nằm lấy thích lấy thú cả. Là cái nằm ở một xă hội đă có tŕnh độ văn minh tương đối cao. Vơng như thế là môi trường của câu hát, điệu ru, môi trường của cuộc sống t́nh cảm, cuộc sống tinh thần, của những cảm xúc tinh tế.

Như thế e cái vơng Nam Á, tuổi của nó không mấy cao chăng? Đáp ứng nhu cầu căn bản mới là xưa, chứ đáp ứng nhu cầu tinh thần th́ xưa sao được?
- Hầy, đă bảo chưa biết về cái xuất thân của nó. Ai mà dám chắc nó già trẻ đến đâu. Gác chuyện đó lại đi. Cái ǵ chưa có chứng cớ đích xác th́ khoan nói. Nói qua chuyện khác, vui hơn.
Bắt đầu, ông Cao Bá Quát có một câu thơ vơng. Chẳng bao lâu sau, ông Bàng Bá Lân liền có cả một tập thơ vơng: Tiếng vơng đưa. Không phải ông Bàng là chuyên gia về vơng. Chẳng qua khi văn thơ Việt Nam nó thoát ra khỏi ṿng Hán ngữ th́ nó dễ dàng đề cập tới cuộc sống dân tộc hơn.
Ông Bàng có ba thi phẩm về tiếng nọ tiếng kia: Tiếng thông reo (1934), Tiếng sáo diều (1939), Tiếng vơng đưa (1957). Trừ tiếng thông reo ra, hai tiếng sau đặc biệt thân thuộc với lỗ tai Việt Nam.

Trong bài ‘Tiếng vơng đưa’ có câu:
...Tiếng vơng nhà ai ru trẻ
Nặng nề chậm chạp đong đưa...
Nặng nề chậm chạp đong đưa...
Cót ca cót két nhịp thơ muôn đời.

Lại có câu:

Dân tộc Việt Nam
Lớn trong tiếng vơng
Trong bài ‘Quê tôi’ có câu:
Đêm dài, nhịp tiếng vơng đưa
Lời ru ời ợi ngàn xưa vọng về...

Kẻ đề tựa cho tập Tiếng vơng đưa là ông Lê Văn Siêu, một học giả từng có những công tŕnh nghiên cứu về văn hoá, về văn minh, của nước Việt Nam văn hiến. Trong bài tựa có lời rằng: "Tiếng vơng đưa kẽo kẹt ấy, vẫn là tiếng ngân dài của năm ngh́n năm lịch sử trong ḷng người con dân đất Việt."

‘Muôn đời’, ‘ngàn xưa’, rồi ‘năm ngàn năm’, rồi lại dân tộc ‘lớn trong tiếng vơng’. Nghe ra vẫn chưa mấy đích xác. Chỉ biết vơng là cái cố cựu, là mật thiết với dân tộc. C̣n cái đích xác th́ hăy chờ thôi.

Vơ Phiến

 

 

 


VĂN CHƯƠNG

2021
2020
2018-2019
2017
2016
2015
2014
2013 
2012

Truyện Ngắn

Hồi ức - Một thời chinh chiến 
No Easy Day - Ngày Vất Vả


Gánh hoàng hoa  
Chiếc huy hiệu hoa sen trên đại lộ kinh hoàng  
Hồi c vngười Cha btù  
Tiếng Anh dm!  
Nằm chơi  
Chứng nhân một sự kiện lịch sử  
Ngộ đạo đất trời  
Xứ khỉ khọn
Sài G̣n thoáng nhớ  
Ông già đạp xích lô  
Chuộc lương tâm  
Đất nước lạ lùng  
Những giọt mưa trên vùng đất khô cằn  
Chân dung văn nghệ sĩ Việt...  
Sài G̣n của tôi sẽ trở lại…  
Ông già bán trứng  
Melbourne: Kỷ niệm Chiến Thắng Long Tân  
Câu chuyện ngày xưa  
Chiếc Rolex ân nghĩa
Giở trang nhật kư, nhớ về bạn xưa  
Nén hương ḷng  
Đám Cưới …chi lạ  
Bông lúa cúi đầu  
Kỷ niệm 60 năm Quân Đội Úc tham chiến VN  
Ngày vui khó quên
Cộng sản là thế đấy!  
Nhiễm Virus Corona 2019 
GS Nguyễn Ngọc Huy & Lm Cao Văn Luận tiết lộ...  
Xao ḷng bởi một từ "Em"  
Hiệp định Genève (20-7-1954)  
Mơ ước b́nh thường  
Phi công Việt là anh hùng nước Pháp  
Viết cho người sắp ra đi...  
Đôi lời về Cung Tiến Nhạc Sĩ hay Kinh Tế Gia ?  
Môt chuyến đi Hawaii  
Vinh danh người vợ tù chính trị VNCH tại Little Saigon

Cái miệng  
Phá thai là giết người 
Cha tôi, người lính Việt Nam Cộng Ḥa  
Những người năm cũ 
Ngày tự phụ  
Màu mắt hoàng hôn  
Paris có ǵ lạ không em?  
Không quên người chiến sĩ QLVNCH  
Tản mạn Huế
Nước mắt chiều xuân  
Nước mắt giữa Trùng Dương 
Cuộc đời & sự nghiệp của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông 
Người tù kiệt xuất  
Câu chuyện về một lá thư  
Ra biển gọi thầm 
Nỗi buồn ngày 30 tháng tư  
Tháng Tư....  
Bài ca của người du tử  
Lời sau cùng nói với tuổi trẻ  
Quên sao được ngày 30 tháng 4 – 1975  
Hai người lính Dù  
Văn Học miền Nam tự do 1954-1975 
Xe tăng Nga làm được ǵ ?

Giă từ vũ khí  
Giờ phút cuối cùng  
Văn Quang, người vừa khuất nẻo Sài G̣n...  
Những tấm chân t́nh 
An Lộc & Ukraine chiến trường lịch sử 
Hải quân Ukraine chiến đấu  
Trông gịng sông Vị
Ngày xa Đà Nẵng  
Chuyện của một cựu binh Mỹ gốc Việt  
Kư hiệu học và "lơ là lơ láo"  
V́ sao chiếc áo cần có 5 cúc ?
Duyên phận và mệnh số  
Thu, hát cho người và giai thoại  
Thương về Ukraine  
Liên hội BĐQ Texas mừng xuân Nhâm Dần 2022  
Đời lính  
Vinh quang trên chiến hào  
Sự thành công của người Việt tị nạn  
Một chuyến công tác Cam Ranh  
Lá đại kỳ An Lộc  
Chém chết một người là kẻ sát nhân  
Chuyện xưa của tôi và bạn bè kbc 4100  
Sứ mệnh văn hóa  
Thư số 124a gởi NLQĐNDVN  
"Người vợ" là một vĩ nhân
Tết với TPB VNCH và mong ước tuổi xế chiều
Khó quên cái Tết năm nào  
Xuân Sang- Xuân Sến 
Năm Cọp nói chuyện… Bia 
Đêm xuân trên vùng biển chết 
Thương chùm Hoa Khế  
Tôi đậu bằng … lái xe !
Về ca khúc "gái xuân"  
Thức tỉnh  
Tử sĩ Hoàng Sa  
Hồi kư trận hải chiến Hoàng Xa  
Khi bài thơ Hoàng Sa vượt vĩ tuyến 17 vô Nam  
26 truyện thật ngắn  
Tuổi già viễn xứ  
Nguồn gốc của cách nói “nam tả nữ hữu”  
Chiến dịch B́nh Tây  
Trận hải chiến giữa HQ VNCH và HQ Trung Cộng  
Truy lùng cục miền Nam trên lănh thổ Kampuchia
10 địa danh nổi tiếng trong âm nhạc miền Nam  
Trả lời vài câu hỏi về cuộc bại trận của QLVNCH  
Cậu bé chăn trâu trở thành đại điền chủ giàu nhất
Lạc giữa mùa xuân
Một Thoáng “AT ... TEN”